Tâm tu tập

Đời sống an vui là kết quả tất yếu của một người có Tâm tu tập. Do vì đa số chúng ta đều không có được cuộc sống an vui như ý, nên cho rằng Tu là để có đời sống an vui, thế là đủ rồi. Nhưng đó không phải là cái kết quả cuối cùng của việc tu tập hay cơ hội làm người cần làm.

Ngược lại, có đời sống an vui, chấp thủ vào đời sống an vui là thường hằng, bất biến, thì có thể bạn còn càng khổ hơn. Vì sự thực thế gian vạn vật vốn dĩ vô thường, vô ngã. An vui đến chóng vánh trong phút chốc, đau khổ liền theo sau mà ta lại chẳng thể làm gì được với cái việc vui buồn của thế gian.

Tuy nhiên, đừng vì thế mà cho rằng một người biết tới việc cần làm, biết tới con đường cần đi đang tự mình bị Áp lực vào nó. Vì rằng, người đã biết việc cần làm thì sẽ hiểu một điều: để có thể đi hết con đường thì không thể mang theo một tư tưởng, một chấp thủ nào cả. Nếu chẳng may họ mắc lỗi, thì Tàm, Quý luôn là tài sản họ mang theo bên mình, nhắc nhở họ sửa lỗi. Bên cạnh, luôn có Minh sư chỉ lối, có hảo đạo hữu thân cận nhắc nhở. Quan trọng có pháp mà Đức Thế Tôn đã truyền dạy.

Dù rằng, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa ai khác. Nhưng trên con đường thực hành Chánh pháp, Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) vẫn là thứ không thể thiếu của một hành giả chân chính.

Luân hồi tái sinh

Do fb của mình k up công việc làm ăn, con thì đã lớn, chồng thì tu thiền nên k có nhu cầu up về gia đình, vì vậy mà bạn bè nghĩ rằng mình mải tu quá bỏ bê hết cả gia đình ck con và công ty. Thực ra, mình k care tới việc người khác nghĩ gì về mình. Mà care tới các quan điểm họ đã đưa ra cho mình:

– tu là để sống thoải mái, bình an em ạ, không phải tu nhiều thế, thấy hạnh phúc, an lạc là được rồi

– tu để không chấp thủ, thấy tâm không ràng buộc vào bất cứ việc gì trên đời, cả hữu vi hay vô vi

– tu để thấy ra Niết bàn nơi không sinh không diệt… hay cụ thể hơn là ngồi thiền thấy ra cái khoảng lặng lặng đó, tâm thấy ra sự vắng mặt của buồn vui, hay là tâm xả trong cuộc sống đó là được rồi…

Vậy là các lời khuyên từ bình dị tới cao siêu mình đều đã được nghe. Có thể nhiều hơn, nhưng mình tạm ghi ngần đó. Thật sự đến giờ phút này hỏi mình tu để làm gì, tại sao mình tu thì mình cũng quên mất rồi. Không phải để nói rằng mình đang tu tù mù, k định hướng. Hoặc là đọc xong tút này lại bảo: nói bảo k lý do mà lý do quá áp lực luôn. K hẳn là thế mà: Lý do đó k thường trực trong đầu nên nhất thời k thể nhớ ra, cũng như lý do đó đã được xác lập, con đường đã được vẽ thì cứ thể mà đi thôi. Muốn nhanh cũng không được, chậm cũng một ngày hết 24h. Còn về lý thuyết mình được nghe đâu đó thì tu là để chấm dứt khổ và tiến tới chấm dứt luân hồi tái sinh.

Quan niệm 1: Tu để chấm dứt khổ thì bạn cũng biết rồi. Vì thế mà bạn đi chùa, tìm những phút giây tịch mịch, vắng vẻ nơi cửa chùa, buông mình thư thái theo tiếng đọc kinh hay chuông vang. Thực hành vài thời tọa thiền để tâm tư được thanh thản, những áp lực công việc, cuộc sống được lắng xuống. Sự bình an đó với bạn đó là quá đủ rồi. Cảm giác đó sẽ được kéo dài từ ở chùa về tới gia đình. Nếu có việc gì không an yên xảy tới: những lời kinh: vạn vật là vô thường, khổ, vô ngã lại được vang lên trong đầu. Và như một liều thuốc giảm đau, sự kiện đó lại qua đi, trở lại trạng thái bình yên trong tâm.

Nghe có vẻ cao cấp hơn việc ở trên đó là không chấp trước vào bất cứ việc gì trên đời. Thực ra đó là một câu nói diễn đạt của Tâm giải thoát – cụm từ trong Kinh Phật. Bạn biết Thân Tâm này do Sắc Thọ Tưởng Hành Thức – ngũ uẩn mà hợp thành. Việc chấp thủ, dính mắc ràng buộc Ngũ uẩn hay tóm lại Tâm bị chấp thủ, dẫn tới Khổ. Mà trong Kinh, Phật có nói: ngũ thủ uẩn là khổ. Vậy thì k còn chấp trước, k còn dính mắc là hết khổ rồi còn gì. Còn đi tìm cái gì nữa.

Một việc cao siêu hơn, mà nhiều người bình thường k thực hành thiền không biết, nhưng người thực hành thiền thì cho rằng: ngồi thiền vào định là quá tốt rồi. Định thật lâu, thật sâu. Rồi bàn về các trạng thái: vắng mặt suy nghĩ, vắng cả hơi thở, hay hơi thở như mất không thấy đâu. Rồi bàn về những khoảng lặng trong thiền, các cõi miền trong đó…. Đúng là chẳng còn gì bằng khi ngồi đó mà thấy như không ngồi, thấy như một cục ngồi vậy. Nó chẳng liên quan tới mình. Chẳng đau mỏi tê nhức, chẳng còn khởi lên suy nghĩ gì với đời sống thế gian này nữa. Một trạng thái lâng lâng, phê phê, sung mãn toàn thân, tràn đầy năng lượng. Và được định nghĩa bằng vô vàn từ mỹ miều cũng có, hay khó hiểu cũng có, không định nghĩa nữa cũng có. Tóm lại là rất thích, thiền đi thì biết. Và cứ người trước truyền tai người kia, thiền đi, thích lắm, thiền đi, phê lắm…

Và như vậy là ok lắm rồi phải không? Còn cần gì nữa, khi mình thấy khổ, mình đã hết khổ do không chấp thủ. Khi mình muốn vui, mình đã có thiền đem lại hỷ lạc.

Quan điểm 2: tu để chấm dứt luân hồi tái sinh. Cái này bạn cũng nghe phong phanh qua. Nhưng mà kèm theo đó là: nghe đâu cái này khó lắm; tu ba vạn a tăng tì kiếp mới được cơ mà; ôi, còn tại gia, tu thế tu nữa vẫn tái sinh thôi; uầy, tham quá rồi, muốn tái sanh, không tái sanh, đâu dễ thế; sống còn chưa xong, bàn chuyện tái sanh sao nổi; người làm chưa được, đã đòi làm thánh… Dưới góc nào đó, điều này được xem là đúng.

Tu ba vạn a tăng tì kiếp: vì tu sai đường, tu trật hướng, tu mà không hiểu cần tu cái gì, càng tu càng chấp thủ. Càng tu càng hoài nghi: chẳng b cái gì đúng cái gì sai nữa, rõ ràng bảo đừng chấp thủ đúng sai mà sao mình thấy rõ ràng có sai có đúng. Càng tu càng đi vào giới cấm thủ: thực hành giới một cách miễn cưỡng, gò ép, áp đặt…

Tái sinh đâu phải muốn là được, không muốn là được: muốn không tái sinh thì phải tu thôi, nhưng khi tu rồi lại buông cả cái muốn mà vì vậy do không khởi ý về tái sinh mà vượt qua được tái sinh. Nhưng chỗ này vi tế lắm nha. Tâm hữu ái con người còn nguyên đó. Thử bước trên bờ thành của tòa nhà 30 tầng xem chân run không?

Làm người chưa xong đã đòi làm thánh: câu này không mang ý chỉ trích các thánh chém gió, mà thật là cần xem lại về cách thực hành. Trong bài Đại kinh 40, Trung bộ Kinh – Nikaya, Thế Tôn có nói về việc tu Bát chánh đạo Siêu thế dành cho các vị có Thánh tâm, hiền tâm, siêu thế tâm, vô lậu tâm. Trong Kinh cũng đề cập: tu tập Siêu thế có 10 chánh, gồm 8 chánh ai cũng biết thì còn Chánh trí và Chánh giải thoát. Nên thật là, nếu không làm người cho tốt trước, không tu tập được Tâm trước thì đừng nói tới tu tập Siêu thế. Mà người tu Đạo gia có nói một câu: tâm chưa Vô vi đừng đòi tu pháp Vô vi.

Vậy chẳng nhẽ, không thể tu tập được chấm dứt Luân hồi tái sinh sao? Hay tu không còn chấp trước, thấy ra Niết bàn, ngồi thiền thấy ra khoẳng lặng lặng … thì là OK rồi. Kiếp này làm người k thấy khổ, khi chết rơi vào khoẳng lặng là không tái sinh?

Không đơn giản vậy các bạn ạ. Nhưng cũng không quá phức tạp hay ghê gớm ở cõi nào, hay phải luyện cho trả hết nghiệp, 3 vạn a tăng tì kiếp mới xong. Mà cần hiểu đúng về CÁI GÌ ĐI LUÂN HỒI TÁI SINH?

Trước khi nói tiếp, thì cần làm rõ một vấn đề này với bạn: không tái sinh, không có nghĩa là không tái sinh làm NGƯỜI là đủ. Hãy đọc kỹ các bài Kinh của Phật, dù là kinh Tiểu thừa hay Đại thừa đều nói về việc các vị chư Thiên vẫn có mong muốn tu tập pháp của Phật để được chấm dứt Luân hồi tái sinh. Vì rằng: kiếp người tu mãi lên cõi Tiên, cõi Thiên. Ở hai cõi đó chơi mãi cả vạn năm rồi lại xuống làm người. Cứ luẩn quẩn vậy.

Vậy các vị đã là Thiên là Tiên, sao vẫn còn muốn tu tập, và thậm chí còn coi Kiếp người là cơ hội lớn để tu Giải thoát, vì ở cõi vô sắc kia không có Thân để mà hành vậy. Các vị ấy quyền năng, quyền lực, còn gì chưa biết mà sao vẫn còn Tái sinh? Nhưng việc chấm dứt tái sinh đó vẫn là có thể. Vì trong các bài kinh có nói, thậm chí các vị Thiên, Tiên chỉ cần sau khi nghe một bài pháp của Thế Tôn đã “hiểu ra vấn đề”. Vâng, hiểu ra vấn đề ở đây chính là Tuệ giải thoát – đây là khái niệm được Phật nói rất nhiều trong các bản Kinh trên con đường đưa tới giải thoát hoàn toàn. Nhưng khái niệm này không được đề cập tới nhiều trong các tông phái sau này hoặc hiểu vẫn còn sai lệch kiểu: tu để có trí tuệ.

Tất cả những lời khuyên các bạn dành cho tôi, hay về 2 quan điểm được trình bày ở trên, mới đang đề cập đến TÂM GIẢI THOÁT, mà chưa hề đề cập tới TUỆ GIẢI THOÁT. Có nhắc về SIÊU THẾ nhưng chưa bàn. Tuệ trong nhà Phật, đang được bạn hiểu là Tu để có được Trí Tuệ – để hiểu về tam thiên, đại thiên thế giới, để có sự thấu biết về chân tướng của vạn vật. Chân tướng là cái gì thì cho rằng nó nằm trong hữu, trong vô hay cả không trong hữu trong vô. Quay đi quay lại rốt vẫn chỉ là để không chấp thủ, dính mắc vào vạn vật là đủ.

Để hiểu rõ hơn về Tuệ giải thoát, hiểu rõ hơn về Luân hồi tái sinh, các bạn có thể tìm đọc cuốn sách “LUÂN HỒI TÁI SINH” này của Sư Nguyên Tuệ. – Nơi con đường đã được chỉ rõ, việc của chúng ta là đi.

Mong là việc tu hành của các bạn đã tu là đi cho hết con đường, không chỉ dừng lại ở thấy bình an, an lạc, hay tâm xả, trạng thái định sâu… như nhiều lời khuyên mình được nghe là đủ. Cần tìm hiểu thêm về một khái niệm: Tuệ giải thoát, hiểu đúng về Tuệ giải thoát, về cách thực hành đưa đến Tuệ giải thoát và Tuệ giải thoát đóng vai trò thế nào trong Luân hồi tái sinh.

Trống trải

Tâm chúng ta thường cảm thấy trống trải, không có việc gì để làm.

Một người phóng tâm đi nghe một buổi hòa nhạc và một người đi tìm rượu để uống cho vui về cơ bản không khác nhau.

Một kẻ đâm đầu vào kiếm tiền, nhìn đâu cũng ra tiền, lao mình vào công việc về cơ bản cũng không khác người mang danh tu đạo nhưng nhìn đâu cũng tưởng luận ra cái này cái kia, nghĩ chứng đắc này chứng đắc kia, tìm mọi cách suy luận giải thích cho người này người kia.

Tâm tu hành là một tâm trong lành, tĩnh lặng thực sự, vắng mặt cả buồn cả vui, vắng mặt mọi định nghĩa, lý giải, chứng ngộ. Tâm chỉ tác ý khi duyên có một nhân là mình tới lúc phải trổ, không tự mình tìm kiếm, soi bới hay phan duyên với bất cứ việc gì trên đời.

Khi thất niệm, nhận biết mình thất niệm thì còn có khả năng cứu chữa. Còn chưa thể biết niệm là gì, đã kết luận mình Vô niệm thì đúng là vô phương. Sự vống lên của bản ngã đều để lại dấu vết nên đừng sao chép hay cố tỏ ra (giống Phật).

Bạn đã học cách để kết thúc chưa?

Covid-19 đã ở mức quá nguy hiểm rồi. Mọi người dạy nhau cách phòng, chữa bệnh, tâm lý vượt qua đại dịch, lấy nguy làm cơ… chung quy là làm cách nào để Sống Sót. Nhưng chẳng ai dạy cách để chết như thế nào cả. Có lẽ chết là điều không ai mong muốn, cũng k ai muốn nhắc tới, cũng không ai muốn chuẩn bị cho nó cả. Nhưng nếu bạn sẵn sàng đối diện với cái chết, chuẩn bị một cách khá đầy đủ để chết, bạn sẽ có một cái chết “hoành tráng”, và hơn thế nữa là một cơ hội Vượt qua Sinh Tử.

Search cụm từ “những điều cần làm trước khi chết” chỉ thấy 101 điều cần làm để phục vụ cái Tôi, bản ngã. Làm thế nào để Vống cái Tôi của mình lên, để thỏa mãn lòng Tham và lòng Dục. Chứ không hề có một list nào nói tới việc chuẩn bị chết như thế nào cả. Khi chuẩn bị sinh con, người Mẹ chuẩn bị cả 1001 việc để nuôi dưỡng, dạy dỗ, chăm bẵm con cái. Nhưng khi chuẩn bị chết, đó chính là sự chuẩn bị của bạn, chứ không phải ai khác. Chúng ta quen với khái niệm Di chúc, trên đó nói về việc phân chia tài sản, cổ phần, đất đai… nhưng như vậy chưa đủ.

Giai đoạn cận tử, các thông tin về các việc mình chưa làm được, những tham muốn, tham ái, sân hận, tiếc nuối… sẽ đổ dồn về và khiến bạn ra đi không hề còn thanb thản, nhất là với người trẻ. Các công việc dưới đây, hoàn toàn áp dụng được cho mọi người theo nhiều tôn giáo khác nhau, cả chủ nghĩa Vô thần hay Thần học…

1. Đối với cha mẹ: nếu bạn còn cha mẹ già, đáng nhẽ việc chăm sóc những ngày cuối đời là của bạn, nhưng nếu chẳng may bạn chết đi, công việc đó ai sẽ làm? Và bạn cần làm gì cho cha mẹ bạn:

– nói lời Xin lỗi nếu bạn đã mắc lỗi với cha mẹ

– nói lời Cám ơn cha mẹ

– nói lời Con yêu Cha, con yêu Mẹ

– mua một combo nghỉ dưỡng dành tặng cha mẹ (không cần nhân dịp gì đâu)

– chuẩn bị một lượng thuốc bổ đủ dùng

– chuẩn bị cho cha và mẹ mỗi người một sổ tiết kiệm nhỏ

– gửi tiết kiệm một khoản tiền để lấy lãi sau này thuê người giúp việc chăm sóc các cụ

(Bạn có tới đâu bạn xài tới đó, không nhất thiết phải làm được cả và nhiều)

2. Đối với bạn đời

– nói lời Xin lỗi Chồng/Vợ mình

– nói lời Cảm ơn anh ấy/cô ấy

– tha thứ cho anh ấy/cô ấy

– cùng nhau đi nghỉ một kì nghỉ mà k để bất cứ điều gì chen vào

– nếu có giá như hãy cho phép người kia đi bước nữa

– những tài sản chung của hai người chấp thuận cho anh/cô ấy sử dụng để nuôi con

3. Đối với con cái

– luôn nói lời yêu thương/cảm ơn chúng

– dạy chúng các thói quen tốt luôn mỗi ngày: tự chăm sóc bản thân, tự giác, tự lập, tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm và tình yêu thương đúng cách; thêm kỷ luật, gọn gàng và sạch sẽ.

– dạy chúng biết chơi một môn nhạc và một môn thể thao

– dạy chúng cách không phụ thuộc vào cha mẹ, và làm cho chúng hiểu rằng: tự chúng là một cá thể độc lập, cho chúng thấy chúng có thể tự mình làm được nhiều việc

– cho chúng biết vai trò của cha và mẹ là như nhau, đều có thể là người chúng cần

– mỗi đứa một sổ bảo hiểm nhân thọ hoặc một khoản tiết kiệm để ăn học

4. Đối với công việc

– nói lời xin lỗi đồng nghiệp

– nói lời cảm ơn với những người đã giúp đỡ mình trong công việc

– tha thứ cho ai đó đã làm tổn hại đến công việc và công danh của mình

– nếu là sếp: hãy lập 1 kế hoạch 5,3,1 năm cụ thể để ai đó kế cận có thể tiếp bước sự nghiệp của bạn

– hãy tìm một người thân tín kế cận công việc của bạn, nhưng hãy hoàn toàn tin tưởng họ, chấp nhận khả năng và trí tuệ của họ, và lường trước việc sau khi tiếp quản họ làm đúng hay làm sai so với kế hoạch thì đều chấp nhận

– nếu làm công ăn lương: hãy luôn sắp xếp tài liệu trong tư thế sẵn sàng bàn giao: ds khách hàng, đối tác, các kế hoạch ngắn hạn….

5. Đối với chính mình

– hãy cảm ơn chính mình vì mình đã làm tốt nhất những gì có thể

– hãy tự tha thứ cho những lỗi lầm vô tình gây ra, đừng tự dằn vặt chính mình

– chọn ra vài dự định, nơi bạn muốn đi để thực hiện sớm, nếu không kịp, hãy học cách Buông vì đó cũng chỉ là tô điểm thêm cho cuộc đời bạn

– chuẩn bị một bảo hiểm nhân thọ hay một khoản tiền nhỏ đủ để thuê dịch vụ làm ma

– nếu bạn bị bệnh hiểm nghèo, khó chữa, hay hoan hỉ như đó là một điều lạ lùng mà cuộc sống đã dành tặng cho bạn. Chính việc lao vào dồn hết tiền của để chữa bệnh chỉ làm cho người thân và chính bạn mệt mỏi hơn mà thôi.

– hãy chọn một bộ môn Thiền để thực hành – ít nhất điều đó đem lại sự bình an cho bạn

– còn có thể hãy học và thực hành Bát chánh đạo – con đường đi tới chứng ngộ và có khả năng giải thoát hoàn toàn.

Mình list được ngần này, thiếu hay đủ là ở phía bạn? Với mình, ngần này việc đã và đang thực hành, giúp mình luôn ở trong tâm thế có thể sẵn sàng đón nhận điều xấu nhất xảy ra. Vì thế mà không hoang mang, không sợ hãi, không tìm cách tránh né, cũng không làm gì phải cuống lên. Con người vì Tham mà nhiều dự định, mục tiêu, kế hoạch. Vì không thể tha thứ mà Sân còn tồn tại. Vì các việc đã bắt đầu chưa thể kết thúc mà Si (kiếm tim) những giải pháp, cách thức để giải quyết vấn đề. Nên là, Hãy vui tươi, mỉm cười, đơn giản, bạn đã luôn sẵn sàng.

P/s: Học cách kết thúc tốt đẹp tất cả những cái đã bắt đầu và không tác ý thiết lập lên mục tiêu tương lai nào cả, kể cả mục tiêu tu tập giải thoát.

Hạ liệt

Bạn nói người khác là Hạ liệt, kẻ ngu khi chỉ thấy một phần của con voi. Nhưng có chắc bạn đã thấy đủ cả con voi hay vẫn trên đường đi theo dấu chân voi?

Nếu biết mình vẫn còn đang trên đường đi theo dấu chân voi, thì hãy việc mình mình đi, và đi cho hết con đường với tâm không PHÓNG DẬT. Một người nào khác đó, nếu chỉ mới đang nhìn thấy dấu chân voi, thậm chí là cỏ – loài cỏ mà voi thích ăn, từ đó lần về đầu nguồn thì như vậy cũng đáng khích lệ rồi. Hãy khích lệ họ tìm con voi theo dấu hiệu của cỏ, theo dấu hiệu của dấu chân voi.

Còn nếu bạn là người có trí, đã có khả năng nhìn thấy toàn bộ con voi, bạn đã có thể thấy người này đang sờ vòi, người kia đang sờ tai, người nọ đang sờ chân… Điều đó với người này, người kia, người nọ… thật đáng trân quý biết bao. Và chỉ cần nhắc họ khoan vội KẾT LUẬN. Hãy từ bỏ cả người sờ voi, cả voi, cả cái đang thấy, đang chạm để có thể vượt thoát ra khỏi con voi, mới có thể thấy điều cần thấy, thấy trọn vẹn.

Cảm ý sau khi đọc Kinh – Tiểu kinh Dụ dấu chân voi (Trung bộ Kinh – Kinh Nikaya – Hòa thượng Minh Châu dịch)

https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung27.htm

dấu chân của loài Voi đâu em chưa thấy, toàn thấy dấu vết của Rắn thôi các bác ạ. Bao giờ em mới có thể thấy được dấu chân của Voi chứ?

Bình an

Đã có thời thấy rằng, như cái cây là bình an nhất. Cứ thế mọc, cứ thế hít khí trời mà sống, lặng lẽ tỏa bóng mát cho những ai cần tới nó. Nhưng rồi nhận ra đó vẫn chỉ là mong muốn trở thành, muốn trở thành một điều gì, cái gì đó.

Bình an hay phiền não cũng chỉ là hai mặt của một vấn đề. Dù là mong muốn trở thành ông nọ, bà kia, cái cây hay tảng đá thì vẫn là mong muốn trở thành một gì gì đó khác với sự thật thực tại đang là. Tâm còn mong muốn, tâm còn phóng dật, còn vọng tưởng, còn điên đảo, còn đủ khiến con người ta tự hỏi sao mình lại thế, sao mình không được như thế, sao mình cố gắng mãi mà vẫn thế. Để rồi chính sự mong muốn trở thành đó làm khô héo chính bạn.

Không mong muốn trở thành, không có nghĩa là ôm chặt lấy bản ngã – cái ta đang là. Mà ở đó vắng mặt cái Ta là. Vì còn cho rằng Ta là, là còn có định nghĩa về thực tại, về trạng thái nơi hiện tại đó. Bạn đang là bất cứ ai, bất cứ tướng trạng nào không quan trọng, cái quan trọng là ở đó bạn vắng mặt đi cái suy nghĩ bạn Đang Là, và vắng mặt cả cái suy nghĩ mong muốn bạn Sẽ Là. Lúc đó, bình an, hạnh phúc, phiền não hay khổ đau sẽ không là khái niệm khiến bạn bận tâm tới. Bạn không còn sự tìm hiểu hay lý giải về chúng để xuất hiện sự chối bỏ, từ khước hay viễn ly mà đơn giản trạng thái bạn đang là như vậy.

Tu không có nghĩa là trở thành, mà tu để giác ngộ. Vì vậy hãy tự dập tắt những điên đảo trở thành, đắc nọ đắc kia, thành tựu nọ thành tựu kia. Hãy tự bên trong mà bước ra, thay vì áp ngược chúng từ phía ngoài vào. Hãy cứ bước đi, và đừng nghĩ ngợi gì.

Cái tôi

Cái tôi nó vi tế thế đấy. Binh thường mình rất hiền hành, vui vẻ với từng nhành cây, ngọn cỏ, đàn ca, và công việc. Hằng ngày, đọc pháp, nghe pháp, thực hành. Các sự đời kéo đến nhờ mình phân bua, mình đều cố gắng chỉ dẫn dưới khả năng hạn hẹp có thể.

Khi gió đông thổi tới thì bản ngã nó cũng nhảy xổ ra. Có thể dùng ít nhất là định tâm hơi thở để nhiếp phục nó. Hoặc đã chánh niệm rồi thì mọi thứ cứ thế thôi. Có thể vẫn có ý niệm xuất hiện nơi tâm, nhưng biết đó là tà niệm, thì có thể dừng lại tại đó. Song lần này, mình thích thì nhích thôi. Dù rằng nói ra nghe sân si lắm nhưng mà mình chỉ buồn cười. Buồn cười cho họ và cho cả mình.

Trước thì mình sẽ bảo đang yên đang lành, mình có làm gì đâu. Mình vô tội, tại sao lại nói mình. Đến khi hiểu: chỉ cần sự xuất hiện, sự có mặt ở trên đời đã là một sai lầm rồi. Một nhân là mắt, tai, ý của người ta, nhân còn lại là hình ảnh, giọng nói của mình, thông tin về mình. Thì hai nhân này mà gặp nhau, người đời và thậm chí người tu tập chưa thuần thục sẽ tà niệm là chuyện bình thường. Mình còn thế nữa là người khác.

Đâu phải đợi có nhiều tiền mới đi bố thí, hay vì bạn nhiều tiền người khác mới tìm tới bạn. Nhưng vì tiền, bạn có thể nhận chúng là của mình, cho phép nó đem lại lợi lạc riêng cho mình thay vì cộng đồng. Vì tiền, bạn cho mình có khả năng hơn người khác và người khác cần tới bạn. Vì tiền, bạn chia rẽ người này người kia. Vì tiền, bạn xây dựng cho mình một hình tượng thật tốt đẹp để rồi ảo tưởng trong nó. Bạn có biết, bạn thật là đáng thương lắm không?

Sự ảo tưởng về sức mạnh còn khổ tâm hơn. Vì chỉ một hai đứa con đu bám vào mình đã đủ mệt. Đằng này vì bạn tự cho là kẻ mạnh, nên biết bao người đu bám vào bạn. Và thật sự, chỉ có thể là vô lậu tâm mới có thể chịu được sự đu bám này. Còn dù luôn dùng mọi phương pháp để nhiếp phục hay quán tưởng vô thường, vô ngã thì nó vẫn khiến những con sóng ngủ ngầm trong tâm trỗi dậy. Vì vậy mà bạn luôn đổ lỗi – đổ lỗi tại người khác không làm được, đổ lỗi tại người khác không biết gì, đổ lỗi người khác không hiểu bạn, hay không biết bạn đã cố gắng, gánh vác thế nào. Và thậm chí đổ lỗi luôn cho người chỉ ra những thiếu sót của bạn là không biết gì, sai rồi, không phải thế. Bạn có biết, đó thật là một điều đáng tiếc không?

Vâng. Vậy đó. Không cần phải nhờ hiền thánh tâm gì cả, ai ngoài cuộc cũng sẽ thấy ra những điều này. Chỉ còn bạn lòng đầy bản ngã, tự nhiếp phục bằng những Keyword mà tự huyễn hoặc về chính mình. Viết tút này ra, chỉ muốn nói, dù bạn hay là tôi, thì đường tu hành còn dài lắm. Cứ từ từ mà học, từ từ mà hành, từ từ mà tu. Chốt: muốn thấy cả bầu trời, đừng chỉ ngắm mỗi vì sao.

Học toán giải toán

Học Toán sẽ giải được Toán.

Học Lý sẽ giải được Lý hay các hiện tượng, các tương tác giữa các vật…

Học Hóa sẽ giải được Hóa hay các phương ứng của các chất…

Học Văn sẽ làm được Văn hay cách viết các loại bài văn nghị luận, hành chính, miêu tả…

Học Tin sẽ biết cách lập trình các chương trình, phần mềm, ứng dụng…

….

Nói chung học gì thì sẽ biết làm cái nấy và không học không biết làm cũng như không phải học môn này sẽ biết làm hay giải các lĩnh vực khác. Nhưng học thì cũng nhiều cấp độ lắm. Đâu có phải cứ học +-×÷ số tự nhiên là biết +-×÷ phân số hay số thập phân. Đâu có phải học Toán là đi thi được giật giải nọ giải kia, đâu phải cứ học Văn là thành nhà thơ, nhà báo…

Chúng ta hay nhầm lẫn:

– thực hành một pháp này và cho rằng nó sẽ giải quyết vấn đề này

– thực hành một vài chi phần Đạo và cho rằng một vài chi phần đó đi được cả con đường Đạo

– chê bai, so sánh một pháp và cho rằng pháp đó không giải quyết được vấn đề đáng ra phải của pháp khác

– biết một pháp này và cho rằng mình đã giỏi, đã thấu triệt, đã có khả năng thuần thục trong việc thực hành pháp đó.

Lời nhắc đầu giờ sáng: im lặng, chánh niệm mà thực hành. Bớt xàm xí, đọc linh tinh, share linh tinh, nói linh tinh. Đọc kinh sách đoạn nào hỷ lạc thì post còn tạm được, còn vì bản ngã post lên thì cũng còn xa Niết bàn lắm.

P.S: đời đôi khi nó khù khoằm thật ý, mít gì mà trông như là..

Khóm trúc

Sư Tâm Pháp có một post: “Tại sao chúng ta vui mừng khi thấy người khác cũng tin vào điều mình đang tin? Những quan điểm được nhiều người tin theo đem lại cho người ta cảm giác an toàn.”

Nhưng xin phép bổ sung: mỗi người không chỉ vui mừng khi người khác tin vào điều mình tin mà còn vui mừng khi người khác làm, thực hiện giống như gì mình đang làm, thực hiện. Nó không chỉ làm cho bạn cảm thấy an toàn, nó cho thấy bạn đúng, bạn được khẳng định, có thể là được tôn vinh. Bản ngã đã khéo léo ẩn nấp sau đó.

Một người kết thân với một người vì cho rằng người đó đang giống mình về quan điểm, về thực hành. Nhưng rồi khi sự thân chứng mỗi người thay đổi thì quan điểm, thực hành cũng theo đó mà thay đổi. Không còn tương đồng, không còn điểm chung. Vì bản ngã, mỗi người cho rằng mình đang đi đúng đường. Vì bản ngã nên xuất hiện một sự so sánh đối chiếu vi tế ở sâu bên trong mà mỗi người thật khó có thể nhận ra, chỉ là không còn sự đồng hành ở đây nữa.

Con đường thực hành đạo là con đường độc mộc, không có xuất hiện tham ái. Nhưng sự bước đi độc lập, cho rằng vì ta không còn tham ái nữa, hay có chăng, là vì ta không còn cảm thấy có thể được chia sẻ nữa? Tự chọn cho mình một cách độc hành mà bản ngã cho rằng: chỉ mình nương tựa nơi chính mình? Chữ nương tựa và đồng hành là hai khái niệm hoàn toàn khác và không đánh đồng như vậy được.

Con đường mỗi người khi đã chọn, cần phải tự hoàn thành để đi nốt. Nhưng nếu bạn cho rằng, bạn có thể tự đi vậy hãy cứ tự nhiên thôi.

P.s: như khóm trúc mọc thành cụm, nhưng vẫn độc lập, k ràng buộc

Một nửa sự thật

Một nửa Sự thật có phải là Sự thật?

Có một câu được Đức Phật nhắc đi nhắc lại trong bài Kinh Phạm võng – bài đầu tiên của Trường Bộ Kinh (Nikaya) là: Như Lai nhờ tuệ tri Tập khởi, sự Đoạn diệt, Vị ngọt, sự Nguy hiểm và sự Xuất ly của #Thọ mà Như Lai được Giải thoát hoàn toàn không còn Chấp thủ.

Thế giới thực tại này là Cảm thọ, Cảm thọ này là cái gì? Do đâu mà có? Tính chất của nó như thế nào? Cùng tìm hiểu như sau:

– 6 căn (6 tế bào thần kinh nơi 6 giác quan của con người: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý),

– 6 trần (6 loại thông tin dưới 6 dạng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp từ thế giới ngoại cảnh),

– 6 xúc xứ (6 cặp đôi của 6 căn và 6 trần, 6 sự tương tác thông tin: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỉ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc),

– 6 thọ (6 loại cảm giác phát sinh do 6 sự tương tác của 6 căn và 6 trần: cảm giác hình ảnh, cg âm thanh, cg mùi, cg vị, cg xúc chạm, cg pháp trần)

* Tuệ tri Tập khởi là hiểu biết như thật, hay thân chứng (không phải là hiểu trên mặt logic) về sự Có mặt của các cảm thọ hay tính Thường của Thọ. Cảm giác là Có thật, nó có mặt khi Căn Trần tiếp xúc, nó thuộc phạm trù Tâm. Nó không thể có khi ngủ say không mộng mị, hôn mê sâu sau khi mổ, ngất đi khi bị tai nạn hoặc tế bào thần kinh giác quan đó không hoạt động. Là người sống bình thường, đầy đủ giác quan hiển nhiên có Xúc của Căn-Trần và hiển nhiên Thọ có mặt.

Con người chỉ không thể nhận ra sự Có mặt của Thọ khi đi liền sau đó là Tà niệm, là Tâm biết ý thức Tà kiến, là Vọng tưởng dẫn đến không thể dừng lại ở Tâm biết trực tiếp (cái biết Vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt). Nhiều trường phái thực hành để dừng lại ở Tâm biết trực tiếp này, và ví nó như là Phép màu của Hiện tại.

* Tuệ tri sự Đoạn diệt của Thọ là hiểu biết như thật hay thân chứng về sự Không có mặt (Mất đi) hay tính Vô Thường của Thọ. Cảm giác đó sẽ Không có mặt khi không có Xúc của Căn Trần. Có Xúc thì sinh, không có Xúc thì diệt. Nó không mời mà đến, không đuổi mà đi là như vậy. Nó vô chủ, vô sở hữu.

Con người vì Vọng tưởng và Tà kiến mà cho rằng Cảm giác đó là tồn tại mãi mãi hay Thường hằng hoặc là nó đang trú ở một nơi nào đó, gọi là nó ra, không gọi nó lại ẩn đi. Vì thế bao nhiêu phép tu cố gắng trường sinh bất lão, kéo dài thời gian của Thọ, cho rằng Thọ đang ở một trú xứ nào đó để tới hưởng thu hoặc tìm cách làm chủ các cảm thọ, cảm giác, cảm xúc…

* Tuệ tri Vị ngọt của Thọ là hiểu biết như thật các Cảm giác đó có thể đem đến sự yêu thích, sự tham đắm, muốn có, muốn sở hữu. Hiểu rõ sơ đồ: xúc sinh thọ, thọ sinh ái (yêu thích), ái sinh thủ (nắm giữ), thủ sinh hữu (có mặt), hữu sinh sinh (tái sinh), sinh sinh khổ đau già bệnh chết.

Con người thấy Vị ngọt của các cảm giác nên mải mê tân hưởng, không muốn từ bỏ, tìm kiếm chỗ này chỗ kia để có các cảm giác lạc thọ, nếu chẳng may có khổ thọ thì sân với nó, khổ đau vất vả để níu giữ, hồi ức, tìm kiếm các cảm giác lạc thọ chỗ này chỗ kia.

* Tuệ tri sự Nguy hiểm là do hiểu biết như thật các cảm thọ đó Vô thường, Vô chủ sở hữu nên Tham ái cảm thọ đó sẽ gây nguy hiểm như thế nào đối với chúng ta. Sự nguy hiểm do muốn nắm giữ, muốn chúng thường hằng nên đưa đến Khổ. Sân với các Khổ thọ hay Si (tìm kiếm) các Lạc thọ nơi cảnh, thậm chí cả tâm để thay thế Cảm giác hiện tại.

Người già, hay người nhiều trải nghiệm sẽ thấy cuộc sống này mang cho chúng ta nhiều khổ đau mà vì thế cũng ít nhiều không còn nắm giữ, ràng buộc với đối tượng. Nhưng đó vẫn là tâm biết cảnh, đổi lại mất mát không chỉ thời gian và công sức.

* Tuệ tri sự Xuất ly là hiểu biết như thật về sự xuất ly của thọ bằng Chánh kiến – hiểu biết những lý thuyết ở trên và quan trọng bằng thân chứng trải nghiệm sự Xuất ly của Thọ. Khi Chánh niệm có mặt liên tục khít khao, người thực hành sẽ thấy rõ sự Vắng mặt của Tham (với lạc thọ), Sân (với khổ thọ), Si (với bất khổ bất lạc thọ) nơi nội tâm mình. Chỉ còn lại sự tịch tĩnh, thanh tịnh, vắng mặt cả khổ cả vui.

Cần hiểu rõ nhờ Xuất ly Thọ mà vắng mặt khổ vui, nội tâm tịch tĩnh, thanh tịnh khác với trạng thái Bất khổ bất lạc khi Tham Sân được giản lược. Nhiều người tu tập Tham Sân giảm bớt, không vui không khổ nghĩ rằng là an yên, nhưng không tuệ tri được sự Xuất ly của Thọ thì vẫn giống như hạt mầm chưa được gieo, vẫn có cơ hội trổ quả.

Như vậy, Sự thật rằng thế giới thực tại này là Cảm thọ, do Căn Trần tiếp xúc mà sinh lên rồi diệt đi, vì thế chúng Vô thường, Vô chủ, vô sở hữu (vô ngã). Do không tuệ tri tất cả những điều trên về Thọ mà có rất nhiều nhận thức sai lầm:

– tâm biết cảnh – nhị nguyên (có chủ thể biết và đối tượng được biết)

– rơi vào chấp Có – chấp Không

– học thuyết Nhị đế – đại ngã, tiểu ngã; tục đế, chân đế

– khổ thường hằng nơi cảm giác

– thậm chí người đã học qua văn tuệ này cũng có thể sai lầm. Sự thật là Cảm thọ, thì Văn tuệ này hầu như ai cũng nắm được, nghe qua một lần là nắm được thông tin. Nhưng nếu Tự kỉ ám thị rằng Sự thật là Cảm thọ, liên tục niệm “là Tâm, không là Cảnh” thì mất đi cơ hội Tuệ tri về Thọ. Việc Tự kỉ ám thị này cũng đưa tới nhiếp phục Tham Sân Si nhưng do chưa Tuệ tri những điều trên nên chưa động tới kho chứa, chưa thể đoạn trừ được ít nhất là thân kiến, nghi, giới cấm thủ – quả vị thấp nhất mà một hành giả cần có được (quả vị là lộ trình tâm, là điều được kế thừa khi tái sanh).

Bát chánh đạo con đường thẳng, hay con đường độc nhất tới chứng ngộ đó chính là việc: nhìn thẳng vào vấn đề, đối diện với vấn đề, nhận diện ra vấn đề, thấy nó như thực là và thân chứng điều đó, một cách không né tránh, một cách không ngụy tạo bằng bất cứ khái niệm ngôn từ nào. Thực hành BCĐ với hiểu biết Sự thật thực tại là Cảm thọ là buông bỏ tư tưởng chấp thủ Ta, của Ta, chứ không phải buông bỏ ngoại cảnh. (Cũng cần lưu ý, Tâm đổi thì Cảnh đổi, và cảnh hay điều kiện ngoại cảnh cũng hỗ trợ cho việc tu tập của các vị Hữu học). Tuệ Tri các điều trên trước hết bằng sự thực hành Chánh niệm để thấy ra như thật Tập khởi của Thọ, sự Đoạn diệt của Thọ. Với Chánh niệm và Chánh kiến mà thấy ra như thật Vị ngọt, sự Nguy hiểm, sự Xuất ly của Thọ. Sự tu tập này được làm cho viên mãn thì khi xảy ra Xúc sẽ #lập_tức khởi lên đối tượng là Cảm thọ, nó Vô thường (có sinh lên và diệt đi ngay), nó Vô ngã (không thể điều khiển, nắm giữ, hay xua đuổi). Tuy nhiên, với các vị hữu học, nhận thức được như vậy, cần kiên trì thực hành như vậy đã là tốt rồi.

p/s: ai cũng bảo tu để làm chủ, mà em buồn quá không làm chủ được các bác ạ. cảm thọ này thật là khốc liệt.