Tổng hợp pháp học sư NT

Tôi đã khóc khi up bài này. Bài viết này đầu tiên chỉ định viết để tổng kết lại văn tuệ đã học, không có ý định quét rác nhà người. Lời của Phật quá giản dị mà do người tu không được nghe, được đọc lời Ngài, lại bị Balamon khéo léo cài vào pháp tu không đúng. Nên khi up bài này tôi đã khóc, không phải vì sự ngã mạn với pháp tu mình đang thực hành mà thương, tiếc, mà không thể làm gì được với những người đang hành sai lời Phật dạy. Nhưng những ai đang ngồi thiền, đang cho rằng mình tu hãy thành thật trả lời: Tu để sống đời đẹp đạo, thành công, lợi lộc? Tu để an trú một trú xứ hay thấy ra một cảnh giới huyền bí? Tu để có quyền năng thiên nhãn, thần thông? Hay Tu để không lăn qua lăn lại giữa các kiếp sống nữa? Hay đơn giản thôi là không còn dính mắc, chấp trước việc gì trên đời?
Lý thuyết của Phật nghe chừng có vẻ rất đồ sộ nên có thể ngại đọc, có thể lại tự cho rằng không cần đọc, nhưng thực ra rất đơn giản. Sự giác ngộ của Phật cũng vậy. Đó là GIÁC NGỘ THẾ GIỚI THỰC TẠI NÀY LÀ CẢM THỌ, chứ không phải là về một cõi siêu hình, huyền bí, về một cõi toàn năng, cõi cực lạc nào cả. Tôi xin phép tóm tắt trong vài dòng dưới đây. Đặc biệt là đã được thầy Nguyên Tuệ tóm tắt bằng sơ đồ hai lộ trình tâm theo ảnh: đường này đến Thế gian, đường kia đến Niết bàn mà Đức Phật đã nói. (Cần phải hiểu đúng các khái niệm của Phật để bắt đầu đi trên con đường này)
Căn: căn bản của các giác quan chính là nơi tế bào thần kinh ghi nhận thông tin từ thế giới ngoại cảnh. Đó là: Tế bào thần kinh (TBTK) mắt, tbtk tai, tbtk mũi, tbtk lưỡi, tbtk trên thân (da và nội tạng), tbtk não bộ. Mỗi tbtk chỉ ghi nhận một loại thông tin do TG ngoại cảnh đem đến.
Trần: TG ngoại cảnh, nó thật có. Đến nay, các nhà khoa học hàng đầu thế giới cũng phải tự phát biểu: chúng ta thực sự không biết vật chất là cái gì. Trần – có thể hiểu là dạng thông tin từ TG ngoại cảnh (có thể hiểu theo dạng sóng, hạt, lượng tử… chứ không phải là vật chất tương tác thẳng với giác quan – tương tác kiểu đó hỏng mắt mất, hihi). Đó là thông tin (TT) hình ảnh, tt âm thanh, tt mùi, tt vị, tt xúc chạm, tt lưu giữ trong adn (pháp trần).
Sắc gồm 6 căn và 5 trần dạng thông tin từ TG vật chất và Danh gồm thông tin trong ADN – pháp trần.
Căn Trần tiếp xúc sinh Thọ. Thọ là cảm giác (CG) phát sinh nơi các giác quan. Đó là cg hình ảnh, cg âm thanh, cg mùi, cg vị, cg xúc chạm, cg pháp trần (cg về tt được lưu giữ). Căn Trần tiếp xúc sinh Thọ phù hợp với Lý duyên khởi do Đức Phật thuyết. Mặt khác, Thọ là cảm giác rất đúng với thực tế. Ví dụ: nhìn xa nhìn gần một vật thì thấy khác nhau, cùng một món ăn, miếng thứ nhất cảm giác khác miếng thứ ba, bốn, năm….
Căn Trần tiếp xúc sinh Thọ là sự giác ngộ của Đức Phật vì nó sẽ giúp lý giải và hiểu đúng về các khái niệm: có mà như không có, giả có, thế giới này là vật chất hay tinh thần, thế giới này do tâm phóng chiếu mà ra… Căn hay Trần đều là dạng thông tin tương tác với nhau sinh ra Thọ – cảm giác. Cảm giác này thực có, nhưng lại chỉ có khi Căn Trần tiếp xúc, chứ nếu Căn và Trần độc lập thì cũng không sinh Thọ. Quan sát thực tế: Thọ sinh lên khi Căn Trần tiếp xúc và diệt đi khi Căn Trần không tiếp xúc, Thọ trước khi sinh không nằm trong Căn hay Trần và sau khi diệt đi cũng thế. Vô Thường và Vô Ngã chính là ở đây. Chỉ một cái nhắm mở mắt hình ảnh về TG ngoại cảnh sinh ra và mất đi, chứ không phải TG cái tồn tại vài ngày, cái tồn tại vài năm, … là vô thường. Mở mắt ra là thấy TG ngoại cảnh đập vào mắt, trừ khi không có mắt thì mới không có Thọ, hoặc nhắm mắt lại là Thọ mất nên mới là Vô ngã như thế. Chúng ta không ngăn cản, không làm chủ được việc sinh ra và diệt đi của Thọ. Nhận thức được Thế giới thực tại này là Cảm Thọ là một bước tiến dài trên con đường tu tập. Dừng ở Văn tuệ, nghe hiểu và ghi nhận thông tin này xác lập được con đường thực hành tiếp theo.
Tưởng là tâm biết, biết sự có mặt của Thọ. Tưởng có 6 loại: nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, tỷ thức, thân thức, tưởng thức (Tưởng thức là tâm biết trực tiếp về thông tin pháp trần chứ không phải là Ý thức). Chúng ta hay nói có một cái ta, cái tự tánh, linh hồn… Nhưng sự thực đó là Tâm Biết trực tiếp Tưởng (trong Kinh Mật Hoàn TBK đã ghi rõ). Tâm biết trực tiếp này phù hợp với hiểu biết về nhận thức cảm tính – trực giác. Loại tâm biết này Thánh hay Phàm, trẻ con hay người lớn, già trẻ gái trai đều như nhau. Vì tâm biết này không có khái niệm, không định nghĩa… nên quan sát một đứa trẻ mới đẻ, chúng vẫn nhìn thấy một bông hoa biết đó là hình ảnh, thấy cô gái cũng chỉ biết đó hình ảnh. Chúng không có khái niệm, thông tin so sánh để mà thích ghét hay có nhu cầu sở hữu. Tưởng và Thọ được sinh ra cùng lúc khi Căn Trần tiếp xúc. Đây là sự sâu kín, khó thấy khó chứng.
Ý thức là tâm biết gián tiếp biết về Tâm biết trực tiếp Tưởng và Thọ. Ý thức ở trong Kinh ghi là do Ý căn tiếp xúc với Pháp trần nhưng thực tế phải hiểu đúng Ý thức là tâm biết gián tiếp biết sự có mặt, sự sinh lên diệt đi của các Thọ và Tưởng. Ý thức này phù hợp với hiểu biết về tâm biết gián tiếp hay nhận thức lý tính.
Lộ trình tâm của Phàm phu:
Bắt đầu từ Tà niệm: Khi Căn Trần tiếp xúc sinh Thọ và Tưởng = một thông tin được lưu vào bộ nhớ, thông tin này đối chiếu với thông tin đã có trước đó do học hỏi, tri thức kinh nghiệm… Hai thông tin này phù hợp > thích (tham), không phù hợp > ghét (sân), không thích không ghét (si) là cảm giác trung tính thì sẽ đi tìm đối tượng thay thế.
Loài người Khổ cũng chính vì Tham – muốn nắm giữ mà Hoại Khổ; Sân – muốn xua đuổi mà Khổ Khổ; Si – muốn kiếm tìm mà Hành Khổ. Mà không hiểu được các Thọ sinh lên rồi diệt đi, chúng vô thường, vô chủ vô sở hữu mà không thể nắm giữ, không thể xua đuổi.
Khổ cũng vì cho rằng Sắc (thế giới vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (tâm biết trực tiếp), Hành (sự tương tác của thông tin), Thức (ý thức và tư tưởng) này là là Ta, của Ta, muốn nắm giữ, muốn chúng thường hằng, muốn làm chủ chúng mà sinh ra chấp 5 thủ uẩn.
Nhờ tuệ tri được lộ trình tâm Tà mà hiểu được Khổ và Nguyên nhân phát sinh Khổ.
Lộ trình tâm của bậc Thánh:
Bắt đầu từ Chánh niệm: bắt đầu từ quán thân trên thân hay chú tâm ghi nhận các cảm giác (nổi trội) trên thân: thấy ra được các cảm giác ở các giác quan và dừng lại ở tâm biết trực tiếp về chúng. Tại đây, có sự Tuệ tri về Cảm thọ, sự thân chứng thấy ra rõ ràng Căn Trần tiếp xúc sinh ra Thọ. Tâm biết gián tiếp ý thức không kích hoạt tà niệm, do vậy mà cảm thấy như có một điều gì đó được tách ra giữa hai tâm biết. Liền sau đó là các chánh niệm về Thọ, Tâm, Pháp sau khi Tâm biết trực tiếp ghi nhận Thọ là tâm biết ý thức đó là thọ gì, do duyên gì mà sanh khởi, thấy ra sự sanh diệt của Thọ mà tuệ tri được sự vô thường, vô ngã của Thọ, từ đó mà không phát sinh Tham hay Sân với đối tượng, cũng không có nhu cầu tìm kiếm đối tượng thay thế.
Chánh Định: Duy trì sự chú tâm liên tục nơi 4 xứ, không xen lẫn lộ trình tâm Tà mà phát sinh ra các trạng thái Chánh định. Tà định là pháp có được định nhưng không do chú tâm nơi 4 xứ mà có thể do chú tâm vào đối tượng TG bên ngoài hoặc tưởng tượng ra một đối tượng nơi thông tin pháp trần (thông tin đã được giữ trong ADN). Chánh Định có 4 tầng. Sơ thiền là chú tâm có tầm có tứ. Nhị thiền. Tam thiền. Tứ thiền. Đặc biệt là sự Chú tâm không tầm không tứ là loại chú tâm đưa tới Chánh Định chỉ có ở pháp của Phật.
Ở các trạng thái Chánh định này có được Tâm giải thoát do dừng được hoàn toàn ở tâm biết trực tiếp là tâm vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt. Một trạng thái như trong Kinh bát nhã đã từng ghi vậy. Trạng thái Định dù Tứ thiền là cao nhất nhưng cũng chưa đụng tới kho chứa thông tin vô minh đã lưu giữ, nên người đó chỉ cần thoát trạng thái thiền, làm các công việc ở đời thì vẫn Tham Sân Si do nhân Vô minh (các tư tưởng Thường kiến, đoạn kiến, chấp vào Ta của Ta) chưa được nhổ bỏ tận gốc.
Để có thể đi tới Giải thoát thực sự thì cần phải tu tập Tuệ giải thoát. Tuệ giải thoát ở đây không phải là điều gì ghê gớm mà chính là cái thấy biết như thật tức là sự thân chứng thực sự, hay sự quy thuận thật sự về những điều của Sự thật – Chân lý : Vô thường, Vô ngã. Vì bản chất Tâm là các Cảm thọ được sinh lên do Căn Trần tiếp xúc, và diệt đi khi không có xúc, nên nó Vô thường, Vô ngã. Nhưng đã bao nhiêu kiếp này, các tư tưởng Tà kiến (thường hằng, chấp có, chấp không, ta, của ta) nó đã ăn sâu vào kho chứa qua các lần tái sinh, nó khéo léo ẩn núp trá hình dưới các thứ gọi là vì nhân loại, bồ đề tâm, thiện lành, ánh sáng pháp giới, chân tâm, tự tánh, linh hồn bất sinh bất diệt,…
Đức Phật đã nhắc đi nhắc lại: với tâm giải thoát, với tuệ giải thoát vị ấy sống đời sống chánh trí, chứng ngộ, niết bàn. Hay cũng chính là 62 lần nhắc lại sau khi nói về một tà kiến: Như Lai nhờ Tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt của thọ, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly mà Như Lai được giải thoát hoàn toàn không có chấp thủ.
Tuệ tri sự sanh diệt của Thọ là cái biết đúng như thật Căn Trần tiếp xúc sinh ra Thọ – là loại Cảm giác chứ không phải là thế giới vuông tròn to nhỏ, thô cứng mềm mịn,… nên nó không có tướng trạng mà chỉ tri thức khoa học, kinh nghiệm tự đặt ngôn từ chế định nên nó mà thôi. Thấy rõ như thật Thế giới bên ngoài là Cảm thọ, là Vô thường, Vô ngã, nó thuộc phạm trù Tâm nên nó Vô Tướng. Hiểu biết đúng sự thật này, an trú nó Minh – Chánh tri kiến này thì sẽ là Tuệ Giải thoát, Vô tướng giải thoát.
Từ các hiểu biết như thật về thế giới, mỗi người từ đó nói lên hay hành động đều là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, không mang trong đó Tham, Sân, Si, hay chính là không tạo nghiệp cho kiếp này. Nhờ Tâm giải thoát mà nhiếp phục Tham, Sân, Si, hay nhờ Tuệ giải thoát mà nhổ bỏ Vô minh, không còn Tham Sân Si mà giải trừ, hay thanh lọc nghiệp của các kiếp trong quá khứ và hiện tại. Dẫn tới người đó thực sự là Vô Tác (con xin phép thêm từ Vô nghiệp). Mà nhờ đó người đó được Giải thoát thực sự, không còn trở lui lại đời sống này nữa.
Tổng kết: hiểu đúng lời dạy của Phật rằng thế giới thực tại này là Cảm Thọ, do Căn Trần tiếp xúc mới sinh ra. Tu tập là thực hành Thiền định để dừng ở Tâm biết trực tiếp, mà trong kinh ghi rõ Chánh niệm – Tỉnh giác; và xóa bỏ Vô Minh – xóa bỏ các tư tưởng tà kiến để biết như thực Minh – sự thật về Vô thường Vô ngã. Hay như Phật đã viết rõ trong bài Kinh Căn bản Pháp môn (bài mở đầu Trung bộ Kinh) – tu tập là thay đổi từ Tưởng tri sang Thắng tri và Liễu tri về đối tượng.
Trên đây là tóm tắt các khái niệm theo lời Phật dạy được thầy Nguyên Tuệ sau bao năm nghiên cứu và chỉ dẫn cho chúng tôi thấy ra lời dạy Thật của Phật, và hướng dẫn chúng tôi thực hành để trải nghiệm được những điều như trong Kinh Phật đã mô tả chứ không dựa trên sự suy tưởng cá nhân, hay lấy trạng thái cá nhân ra đối chiếu, hướng dẫn. Ngoài nội dung này ra, các ace có thể tìm hiểu rõ hơn về 37 chi phần đạo đế gồm: tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo. Có thể tìm hiểu thêm về chánh trí và chánh giải thoát, thất thánh tài (sản) của bậc thánh.

Khúc gỗ bị mắc cạn hay mục nát ở bên trong?


Bạn có thể đọc thuộc làu làu kinh sách, viết lại y nguyên lời một vị đạo sư giảng không sai một dấu chấm, phẩy nhưng chính việc này khiến bạn rất dễ trở thành khúc gỗ bị mắc cạn hay mục nát ở bên trong.
Khúc gỗ bị mắc cạn trên đất nổi đồng nghĩa với ngã mạn. Sự thông minh, tư duy logic giúp người ấy có thể có một trí nhớ tốt, xâu chuỗi được các vấn đề lại với nhau. Chính vì thế người đó tưởng rằng mình có thể lãnh ngộ pháp, chứng pháp.
Khúc gỗ bị mục nát ở bên trong là không phải Samon nhưng hiện tướng Samon, không phải phạm hạnh nhưng hiện tướng phạm hạnh. Nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng và là một đống rác bẩn. Khúc gỗ mục ở đây rất gần với bản ngã, do thực ra nó là bản ngã được phóng đại, chỉ còn cái vỏ mà không có lõi. Nội tâm hủ bại, dục vọng cũng do bản ngã đầy tham muốn, nhân danh điều nọ điều kia, nhất là núp bóng thiện pháp.
Xem thêm bài kinh Khúc gỗ https://suttacentral.net/sn35.237/vi/minh_chau
Thật khó để một người có thể nhận ra mình đang bị mắc cạn hay là một khúc gỗ bị mục nát ở bên trong. Chỉ có Chánh kiến mới có thể liễu tri được cả Chánh kiến và Tà kiến, nhận mặt rõ được trò chơi mà bản ngã của mỗi người đang tạo ra.
Sự thông minh, logic không có nghĩa là thân chứng. Vì thông minh, logic nằm trong kho tri thức kinh nghiệm Vô Minh, ở các vòng lặp của Tà tư duy mà có được. Còn Thân chứng là sự thay đổi thực sự của lộ trình tâm khi một chi phần được khắc rãnh sâu vào kho chứa. Chính vì vậy, khi thân chứng từng chi phần, người học đạo đều cảm thấy có sự thay đổi rõ rệt bên trong thân và tâm mình vậy. Và phải hiểu kho chứa này nằm ở khắp cơ thể chứ không phải nơi bộ não, nên khi có thay đổi là toàn thân cảm nhận vì nó có sự thay đổi tới cấu trúc AND (nhiều hay ít tùy sự thân chứng), hay đơn giản gọi là thay đổi tới tận bản chất vậy. Chứ không phải người đó nghĩ là, cho là như vậy.
Cũng chính vì thay đổi tới bản chất nên người này là một con người mới hoàn toàn. Có những người sự thân chứng ít, mờ nhạt thì mới chỉ là khác khác đi nhưng người đó đã cho mình là thay đổi quá nhiều. Ai cũng nói không ai hiểu mình bằng mình, nội tâm ai người ấy hiểu. Nhưng rất tiếc lời ăn, tiếng nói, hành động mà một người đưa lại lại đang nói lên tất cả cái sự thay đổi từ bản chất của người đó tới đâu.
Tất cả những hành động nhân danh (rất nhiều) từ trách nhiệm tới gieo duyên đều là việc làm của BCĐ hiệp thế. Với người tu học BCĐ siêu thế, Chứng ngộ Duyên khởi, hay Vô ngã dù mờ nhạt chi phần này cũng hiểu việc của mình phải làm là gì. Đặc biệt là cư sĩ, việc của mình là Hộ pháp mà thôi, giảng pháp hay gieo duyên là của các bậc giảng sư. Các sư tăng sư ni còn chưa dám đứng lên giảng, học trò có được tí lý thuyết giảng về Phật về Pháp như đúng rồi. Phần này xưa chính mình cũng vướng. Sau khi thấu hiểu ra, sợ không dám nói lung tung. Hoa chân múa tay nói, vừa có thể làm người nghe, người đọc hiểu sai về Phật. Mà hiện nay chính vì công nghệ thông tin mà Phật giả khắp nơi là như vậy. Còn khi hiểu, các bài gần đây, luôn phải trình pháp rồi mới dám đăng (bài này k trình vì bài này viết có cái tôi ở đó rồi,hihi).
Chưa kể hãy quan sát sự thực của một người là việc đời còn chưa dứt, vẫn ham vọng công ty lớn, nhân viên đông, xuất hiện nhiều trên công nghệ thông tin đại chúng, đưa những tin nội dung không liên quan tới pháp học, pháp hành. Thật tiếc không phải là phạm hạnh của một người Samon chân chính. Chỗ này phải hiểu, các pháp tùy duyên mà sinh, tâm còn phóng dật ra bên ngoài còn ham thích, ước vọng. Đến người chăn bò, còn trả lại bò cho chủ khi nhận ra sự thực hành pháp đúng đắn là như thế nào. Với câu: “đổi tâm không đổi cảnh” cần hiểu được, nếu thực sự đổi tâm thì cảnh cũng tự đổi theo vì cái thân xác phàm này và những gì xung quanh nó đều do Ngũ uẩn kết hợp mà ra cả. Chỉ ai còn chấp chặt Ngũ uẩn thì Tâm vẫn vậy và cảnh cũng vẫn vậy.
Hay đơn giản, nhìn bước đi, nhìn đôi mắt có thể đọc ngay được lộ trình tâm một người khi nói về một vấn đề. Bước đi khoan thai mà vững chãi tâm đặt ở chân mà ý không sinh khởi. Mắt không mở to, nhìn trái, nhìn phải khi có xúc về một thông tin đưa tới. Chưa kể tư thế kiết già lưng thẳng rất quan trọng khác hẳn với việc thả lỏng nghỉ ngơi thư giãn của toàn thân – lúc này cũng không có suy nghĩ, nhưng là không chú tâm vào đâu chứ không phải chú tâm không tầm không tứ là loại chú tâm có chú mà như không chú. Nhưng lại cứ ngỡ mình đang vào tam thiền.
“Còn vui thích với trú xứ của mình hoặc của người, sự kiện tỳ kheo đó được giải thoát không thể xảy ra”. Mình đáng ra cũng cần tâm bất động với trú xứ của người mà thu thúc lục căn, chánh niệm trên thân. Nhưng tu học mà, cũng cần nghiêm túc Liễu tri các pháp trên các thông tin vô minh sinh khởi do Duyên xúc. Cũng thấy rõ các tà niệm đang sinh lên và diệt đi, chúng thật là vô thường, vô chủ, vô sở hữu.

Lời tri ân thực sự dành cho bậc đạo sư!


Học và hành đó là hai từ luôn được đi song song. Chính vì vậy, rất nhiều lớp kĩ năng tôi tham gia, thường là học viên được nêu tên đã có sự thay đổi tiến bộ rõ rệt sau các khóa học. Tại sao lại thế? Đơn giản đó chính là lời, hay việc tôi tri ân những người đã từng chỉ dạy cho mình.
Lời tri ân con dành cho những người thầy của mình là với tri thức được trao truyền, với điều kiện thực hành của mình, con sẽ làm sao trọn vẹn với từng lời thầy giảng. Vì con hiểu những điều sau. Một người thầy thực sự không phải là mong rằng học trò của mình đứng trên cao bắc loa nói rằng: cái này tốt lắm, tới đây học đi. Một người thầy thực sự cũng không mong rằng học trò của mình đem những lời giảng dạy của mình đi khắp nơi, nhưng chính người học trò đó lại không thực sự nghiêm túc với việc thực hành. Một người thầy thực sự, sẽ mong muốn được nhìn thấy những người học trò của mình trưởng thành, thay đổi qua những lời dạy của họ. Một người thầy thực sự, sẽ mong muốn người học trò của mình sẽ luôn giữ vững tâm đạo, không chùn bước trước bất kể khó khăn nào cả về ngoại cảnh lẫn nội tâm. Và người thầy sẽ luôn đứng đó, chỉ dẫn từng bước cho học trò của mình bước qua.
Mỗi người thầy đã trao cho con một chiếc chìa khóa, đi qua những cánh cửa mà cuộc đời đang tạo ra. Nếu bạn hiểu, cuộc sống đang tạo ra cho bạn rất nhiều căn phòng cần khám phá, mỗi căn phòng chứa đựng một điều bí mật của nó, thì mỗi người thầy với phương pháp của họ sẽ giúp bạn có thể mở cửa một căn phòng với điều bí mật ở trong. Cần thấy rõ chìa khóa này thì mở cửa cho điều này, chìa khóa kia mở cửa cho điều kia, thì bạn sẽ không bị “râu ông nọ cắm cằm bà kia” – phương pháp này giải quyết cho vấn đề nọ. Cũng đừng mơ mộng một chiếc chìa khóa vạn năng mở ra mọi cách cửa thần kì tuyệt diệu cho cuộc sống. Nhưng nếu bạn hiểu, có một chiếc chìa khóa, không mở cánh cửa nào của thế gian hết. Nó làm cho tất cả các căn phòng kia, cũng như các điều bí mật trong đó bạn không còn muốn khám phá nữa. Vì ngay tại đây, nó chính là bí mật – sự thật thực tại là các Cảm thọ, do Căn – Trần tiếp xúc mà sinh ra, nó vô thường, vô ngã mà không thể nắm giữ hay cố gắng buông bỏ.
Một lần nữa, chưa bao giờ con thôi tri ân những lời giảng dạy của các bậc đạo sư dành cho mình. Lời tri ân đó có mặt trong từng sự chú tâm ghi nhận nơi căn trần tiếp xúc, hay là trong từng hành động, lời ăn tiếng nói của mình. Để bất kể ai cũng thấy được, đó là học trò đã từng học, từng hành phương pháp như vậy để có được sự đúng đắn, thay đổi, tiến bộ như vậy.

Rác

Chỉ khi nhận ra nhà mình đầy rác, bạn sẽ không có nhu cầu khuyên người khác phải dọn nhà ntnay hay ntkia, cũng không có nhu cầu “giúp” người khác trang trí ngôi nhà của họ, cũng như không có nhu cầu hý luận thế này mới là ngôi nhà đẹp, thế kia là ngôi nhà xấu nữa.
Giữa phố thị ồn ào, giữa mắc giăng các dục, giữa nơi sự thỏa mãn các ái được đáp ứng ngay lập tức, bạn không thể nhận ra mình đã sử dụng quá nhiều hóa chất vào việc lau dọn để nó sạch bong bong một cách tạm thời ntnao. Chỉ có khi đặt nó yên ở đó, kệ nó ở đó, bụi bặm, nấm mốc, sâu chuột bọ ở đâu mọc lên, chui ra, xuất hiện đến tràn ngập, bạn mới thực sự hiểu trong ngôi nhà của mình chứa nhiều nhân tố sinh khởi “rác” đến ntnào.
Rác ở mỗi ngôi nhà sẽ không giống nhau, cũng như cách lau dọn là tùy thuộc vào sự nhận thức của mỗi người đâu là việc cần làm trước, đâu là cái đáng bỏ đi sớm hơn.
Hãy khéo léo quán sát ngôi nhà của mình và lựa chọn cách lau dọn phù hợp với một trạng thái thư giãn, tự nhiên, tránh bị đuối sức vì đây là một việc làm trường kì vì chỉ một làn gió nhẹ cũng đủ đem đầy bụi rồi. Đừng nghĩ rằng việc trang trí thêm đủ thứ nọ kia khiến trông ngôi nhà trông sạch đẹp hơn, nó chỉ làm bụi càng có chỗ để ẩn nấp, chuột bọ càng có chỗ trú ngụ thêm. Cũng đừng cưỡng ép với các hóa chất làm sạch tạm thời vì chúng chỉ khiến bạn nhầm lẫn và dục hỷ với kết quả giả tạm mà thôi.
Hoan hỷ một ngày nắng, mỗi ngày thư thái, hồn nhiên với việc lau dọn nhà của bạn.

Lạ?

Người vui chơi lạc thú
Đâu do cảnh vui mừng
Do tâm mình cảm giác
Do duyên lạ mà thôi


Người trí nên từ bỏ
Duyên lạ cảm giác lạ
Vui với nội tâm mình
Trong trú xứ thanh tịnh

Thực hành BCĐ

Từng bước trên con đường thực hành Lối sống Bát chánh đạo – Lối sống của bậc Thánh.
Người không tu tập pháp môn gì khi quan sát một số người thiền tập lâu năm thường: nó cứ ngơ ngơ, như trên mây trên gió, sống không thực tế, bỏ nhà bỏ cửa suốt ngày đi tu đi chùa… Nếu ai đó đang thực hành tu Chỉ hoặc tương tự các pháp môn khác thực hành thiền định có Tầm có Tứ, dừng ở Tâm Không thì đúng thật là khó đưa vào đời sống. Như Kinh Bát nhã đã nói tất cả đều là Không vậy. Chính vì thấy như vậy, biết như vậy, nên người thực hành đạo bị vênh so với cuộc sống. Vì cuộc sống dường như là thật, là có cơm áo gạo tiền, là có sắc thanh hương vị xúc pháp… nhưng Tâm họ thì mặc định mọi thứ là Không, nên quả thật rất khó ứng xử với cuộc sống này.
Nhưng tại sao thực hành Bát chánh đạo lại có thể đưa tới ứng dụng vào đời sống, thậm chí có thể thực hành lối sống của bậc Thánh?
Như các bạn đã biết về lộ trình tâm Chánh niệm- Chánh tinh tấn- Chánh định- Tỉnh giác. Tỉnh giác này chính là Tâm giải thoát, Tâm không. Tỉnh giác là dừng lại cái tâm biết trực tiếp, không có tâm biết ý thức khởi lên. Vì vậy, người thực hành không có nhiều suy nghĩ với đời sống, họ thường thấy tâm trống rỗng, thậm chí hay quên. Nếu bảo họ suy nghĩ là điều khá khó khăn. Với người chưa tu học BCĐ, họ kinh nghiệm được Tâm biết trực tiếp, đời sống của họ khá an lạc, vui tươi, hồn nhiên, và với biến cố bình thường họ gần như không Tham Sân với đời. Vì đơn giản họ chẳng nghĩ ngợi gì, bằng lòng với tất cả. Ở đây Tâm biết trực tiếp – Tưởng phát huy mạnh mẽ nên họ thường phiêu lãng với mây gió đất trời như trở thành nhà thơ, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ… Nhưng chưa phải là Tỉnh giác hay Tâm giải thoát. Với người tu học BCĐ, thì bắt đầu kinh nghiệm được Tỉnh giác nhưng chưa an trú vững chãi, cộng với thiếu Chánh niệm liên tục thì dễ rơi vào tâm Si, cứ man mác buồn buồn, đôi khi cũng lơ lửng với thực tại, nếu không có thầy hướng dẫn bên cạnh thì cũng trượt vào đời sống Lạc thọ như người chưa tu tập gì.
Thực hành Tỉnh giác là một bước quan trọng trong thực hành tu đạo. Vì chỉ có an trú Tỉnh giác, người thực hành mới có thể có cái biết như thật về đối tượng. Sự thật thực tại là các Cảm thọ (cảm giác) do căn trần tiếp xúc mà sinh ra. Và tại đây, với những thông tin thật về đối tượng thực tại mới được đưa vào lộ trình tâm ứng dụng vào đời sống là Chánh niệm – Chánh tư duy – Chánh tri kiến. Không phải Tỉnh giác là phát sinh Tư duy. Nhưng Niệm có được do Tỉnh giác mới là nguyên liệu để Chánh tư duy. Chứ không phải khi Căn Trần tiếp xúc, phát sinh Thọ là Chánh tư duy được luôn. Vì nếu chưa thể An trú Tỉnh giác, thì thông tin đưa vào quá trình Tư duy sẽ xen lẫn Minh và Vô minh mà người thực hành nếu không khéo léo quan sát sẽ không nhận ra được. Vì chỉ khi An trú Tỉnh giác, các thông tin đưa cho quá trình Tư duy mới là thông tin đúng như thật về đối tượng thực tại. Phải thấy như thật đó là cảm thọ, cũng như an trú trên đó thì sẽ thấy rõ ràng quá trình sinh diệt, vô thường, vô ngã của cảm thọ. Chứ không phải nghĩ rằng hay tư duy nó là như thế, ra như thế. Ví dụ như một thiền sinh khi trải nghiệm thiền ở tầng sâu, an trú tỉnh giác, người đó thấy rõ ràng từng loại cảm giác âm thanh, không cái nào bị xen lẫn cái nào: tiếng thầy giảng, tiếng chuông gió, tiếng ve kêu, tiếng quạt quay… từng cái một sinh lên rồi diệt đi rõ ràng như thế nào, nó vô chủ vô sở hữu như thế nào.
Đối với một số thiền sinh lần đầu nghe pháp, thấy pháp thì dục hỷ với pháp. Thông tin đó là nổi trội nên cứ nhắm mắt lại là nhớ lời thầy giảng. Và người này cho rằng mình đang Chánh tư duy thì đó là không phải. Chánh tư duy chỉ có khi trong Định. Định là do cho có sự chú tâm liên tục trên các thông tin kể cả đó là thông tin pháp trần. Nên phải khéo léo quan sát ra việc cứ nghĩ về bài giảng là bị thông tin lôi đi, phần nhiều do dục hỷ thông tin mà không thể dừng ở tâm biết trực tiếp đó chỉ là cảm giác pháp trần đang nhớ lại lời thầy giảng. Khi Định các thông tin qua các căn được lưu vào kho chứa dần dần sẽ thấy nó lắng xuống mà thực tế là các thông tin này không dao động loạn xạ trong kho chứa nữa. Càng tầng thiền sâu thì các thông tin này gần như đứng im hay ổn định vậy. Việc này giống như cô giáo vào lớp giảng bài, thì học sinh cần ổn định chỗ ngồi, ngồi ngay ngắn. Vì thế khi nội tâm tịch tĩnh, an trú tỉnh giác (thường là tầng tam thiền) mới hướng đến tư duy, để lúc này thông tin về đối tượng được lấy ra là thông tin như thực (Minh) và không bị xen các thông tin Vô minh vào.
Phần này phải nói rất kĩ, vì giống như nấu ăn, nguyên liệu không chuẩn, nấu kiểu gì cũng ra một món ăn không tốt. Nhưng đa số các thiền sinh vẫn hay nhầm lẫn chỗ này, cứ căn trần tiếp xúc là cho tư duy luôn và nghĩ là Chánh tư duy. Việc này vừa khiến thiền sinh không thể thực hành được Tuệ quán mà không đưa tới được ứng dụng BCĐ vào đời sống. Phương pháp thiền trong Chỉ có Quán, trong Quán có Chỉ này chỉ có giảng sư Nguyên Tuệ mới nhận thấy rõ từ những lời giáo huấn của Đức Phật. Còn đa số các pháp môn thì tu Chỉ riêng, tu Quán riêng nên không thể khớp vào đời sống được như vậy.
Nhờ có Chánh tư duy mà người thực hành có được Chánh kiến, biết như thật các pháp là sinh diệt liên tục, là vô thường, vô ngã. Cái biết này là cái biết như thật, ngay khi Căn Trần tiếp xúc, chứ không phải là biết thế, nghĩ là như thế. Cũng chính vì có Chánh kiến nên thật khó để người ấy đi đến lời nói và hành động một cách tùy tiện nữa. Mà sẽ có xu hướng ít nói, ít làm đặc biệt là những việc thừa thãi không phục vụ cho nhu cầu cơ bản hay giảng pháp. Còn khi có tác ý nói lên hay hành động nhất là trong công chúng thì sẽ kèm theo một lộ trình tư duy ở chi phần Như lý tác ý. Vì cũng là một lộ trình tư duy, nên trên BCĐ là Chánh tư duy, lấy thông tin hay niệm có được từ việc người đó đang an trú Tỉnh giác. Chưa kể khi người đó Chánh tư duy thuần thục trên các barem về Lý duyên khởi, về Tứ thánh đế, về Vị ngọt, sự Nguy hiểm, sự Xuất ly của Thọ mà nhờ đó nói lên hay hành động đều ngó trước, ngó sau, có ý có tứ. Việc ăn ở gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ không phải là do quy định, ép buộc mà người ấy tự giác thực hiện vì hiểu nó là nhân cho việc dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, không mang lại dịch bệnh… Cũng như không mang cái tôi của mình ra mà cũng không động đến cái tôi của người. Vô ngã triệt để là như vậy. Vì thế việc ăn nói hay hành động này đáng được ca ngợi là bậc Thánh. Việc này không phải là thiếu Tỉnh giác để ăn nói, hành động một cách Ngây thơ, Vô tư đến vô ý vô tứ và tự cho rằng đó là mình đang không tham, không sân, không si.
Bậc Thánh luôn an trú niệm trên thân (Tỉnh giác) và nói lên hay hành động đều nhờ có Chánh tư duy mà có Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng với mọi người. Thực hành lối sống BCĐ, lối sống của bậc Thánh thì việc đầu tiên cần rèn luyện an trú Tỉnh giác vững chãi, sau đó lấy thông tin Minh do Tỉnh giác đem lại để Chánh tư duy, lấy cái Biết có được do Chánh tư duy đem lại mà ứng xử với cuộc sống. Con đường này đã được chỉ dẫn như vậy, hướng dẫn như vậy để với Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát một người không những có được đời sống Thích nghi, vắng mặt khổ đau mà còn có thể đưa đến giải thoát tối hậu.

Thực hành BCĐ

Tại sao bạn vẫn chưa thể bước đi trên con đường Bát chánh đạo?
Có một sự thật là nhiều thiền sinh tham gia nhiều hơn một khóa tu BCĐ nhưng lại chưa thể bước đi trên con đường BCĐ, nhưng ngược lại có những thiền sinh chỉ tham gia một khóa tu BCĐ họ có thể thực hành được những lời của thầy dạy. Có quan điểm thì cho rằng, đó là do họ chưa bỏ những kiến thức Vô Minh cũ. Có quan điểm cho rằng, văn tuệ chưa vững… Nhưng theo kinh nghiệm cá nhân, cái quan trọng nhất đó chính là họ chưa thực sự nghiêm túc thực hành: thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, tức là dừng lại lộ trình tâm ở Tỉnh Giác.
Để thực hành Tu Chỉ, thì văn tuệ quả thực không có nhiều. Chỉ đơn giản là hiểu biết thế nào là 6 căn và 6 trần, sự tiếp xúc của chúng sinh ra 6 loại Cảm thọ và 6 loại Tưởng (tâm biết trực tiếp) ghi nhận 6 loại Thọ đó. Dừng lại ở tâm biết trực tiếp Tưởng bằng cách chú tâm vào các cảm giác (nổi trội hoặc có chủ đích). Còn với các kiến thức Vô Minh cũ, nếu thực hành nghiêm túc, chỉ dừng lại ở Tâm biết trực tiếp, thì ở đó có là điều kiện cho các Tà Niệm được sinh khởi không? Hay là vì thiếu sự thực hành một cách chú tâm liên tục mà làm cho các lộ trình tâm BTĐ bị xen vào, làm kích hoạt lên những thông tin Vô Minh mà thôi? Dẫn tới không thực hành được lại đổ tội cho Kho chứa.
Nhiều thiền sinh trong khóa học, đã kinh nghiệm được “thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe”. Nhưng sự trải nghiệm này lại chỉ kịp thoáng qua, lướt qua và ngay liền đó là tâm biết ý thức: a, đây rồi, mình đã “chứng” được – lúc này tâm biết trực tiếp mất, khiến sự thực hành không thể chú tâm liên tục và kéo dài để có thể tiến tới Chánh Định. Vì chỉ có an trú Chánh Định bạn mới kinh nghiệm được Tỉnh Giác. Chứ nó không phải chỉ là một cái thoáng qua của Tâm biết trực tiếp, hay thoáng của của Chánh Định. Muốn an trú Tỉnh Giác thì cần dày công thực hành hơn rất nhiều. Đó là sự liên tục, liên tục… hay Chánh Tinh tấn để đưa đến Chánh Định liên tục thì mới làm cho các việc ghi nhận chú tâm các đối tượng trên thân này trở thành một cách tự động. Nó thực chất là một thói quen Nhớ đến Chú tâm (Chánh niệm) đã được tu tập một cách thuần thục đến nỗi không cần phải tác ý mà trở thành tự nhiên như nhiên là như vậy (như việc đi đứng nằm ngồi giờ k phải dạy là nhấc co duỗi đặt từng bước như thế nào).
Nếu bạn thấy con đường BCĐ này đúng đắn, hãy bước từng bước, dừng lại ở tâm biết trực tiếp như đúng sự hướng dẫn thực hành của Giảng sư, bỏ qua hoặc không làm cho sinh khởi bất cứ một Tà niệm, thực chất là một lộ trình tâm Tà nào đưa đến phán xét so sánh về Pháp ở đây cả. Sự trải nghiệm, kinh nghiệm đúng đắn về Tỉnh Giác thật sự sẽ mở tiếp cách cửa trên con đường đạo cho mỗi cá nhân chúng ta.

Dục như ý túc


Đây là một loại Dục phát sinh không phải từ một khởi niệm mong cầu đi học đạo dù đó là Chánh đạo. Mà là khi đó người ấy thấy rõ ràng sự thật về Khổ và Khổ tập, vì thế người đó quyết tâm bước đi trên con đường đưa đến Khổ diệt.
Chỉ có thấy như thật, thấy lông tóc dựng ngược về các loại khổ, khổ do dục ái (ham muốn vật chất, tinh thần), khổ do hữu ái (ham muốn hiện hữu làm người), khổ do phi hữu ái (ham muốn hiện hữu ở các cõi hay tầng trời), thì lúc đó mong muốn tu tập hay Dục để thúc đẩy sự tinh tấn tu tập mới được gọi là Dục như ý túc, là Dục phát sinh từ sự hiểu biết như Thật.
Hãy hiểu biết như thật, học Đạo không phải là khoe mẽ, theo phong trào, thêm một kỹ năng sống hay tìm cầu về một trú xú kì diệu, hay bình an nào đó.
Khi có dục như ý túc, lúc này việc học và thực hành pháp diễn ra một cách tự động, tự nhiên như con người thấy đói thì ăn, thấy khát thì uống, thấy nắng thì trú, sáng ra tỉnh dậy thì đánh răng rửa mặt vậy.

Thất bại là mẹ thành công?


Nếu bạn đã từng quan niệm như vậy, thì lành thay, bạn là một người ý chí vô cùng mạnh mẽ. Cuộc đời dù có khó khăn, sóng gió thế nào cũng không đánh ngã được bạn. Bạn luôn biết vươn lên như một bông sen trong bùn lầy vậy. Đó là những câu bạn đã từng được nghe ai đó khen ngợi bạn.
Cả những thất bại, cả những lời ngợi khen, như ngọn lửa thắp sáng thêm niềm tin, thêm năng lượng cho bạn đi tiếp trên hành trình cuộc đời này. Như một người đang mắc kẹt ở sa mạc, nắng, nóng, khát khô, nhưng bạn vẫn vững tin ở xa kia, cứ đi tiếp đi sẽ là nơi gió mát, nơi có những nguồn nước thanh khiết đang chờ bạn. Thành quả sẽ không phụ công sự kiên trì và cố gắng.
Tại sao bạn có được ý chí và niềm tin sắt đá như vậy? Vì bạn không thể bị khuất phục. Bạn như những vó ngựa nơi thảo nguyên, bất kham, có thể sải những bước dài trên đồng cỏ. Bạn không cho phép mình thất bại, vì bạn chưa đúng chứ không phải bạn không đúng. Bạn cần phải chứng minh, cần phải được tôn vinh, cần phải được công nhận.
Nếu tới đây bạn cho rằng bước đi của bạn là đúng đắn. Mình sẽ không cần bàn thêm về sau. Nhưng nếu bạn nhận ra, mình đang tìm cách làm dày lên bản ngã của mình, đang tìm cách xây dựng một tượng đài mang tên bạn. Hay bạn hiểu chính cái bản ngã này, khiến bạn lăn dài trên con đường sinh tử, đi hết kiếp này qua kiếp khác. May mắn thì được làm người, còn không làm trâu ngựa chứng minh mình khỏe, làm chim chóc chứng mình tự do không giống ai. Có thể bạn nói, chết là hết, chẳng cần bận tâm, sống hạnh phúc một kiếp người này là được.
Nhưng tôi không tin không có những lúc bạn bất chợt ngồi đó thất vọng, ê chề và cô độc. Tôi sẽ luôn ở đây bên bạn. Như sự thật rằng, thế giới này chỉ là các cảm giác được sinh ra do các tế bào thần kinh nơi giác quan ghi nhận đối tượng bên ngoài vậy. Không có đau khổ và cũng không có thành công. Chúng chỉ là các công việc bạn làm nếu cần làm, hoặc không làm nếu không cần phải làm. Cảm giác đến từ các kết quả đó đúng ra không cần phải đối chiếu với thông tin, quy định, tiêu chuẩn nào cả, kể cả của chính bạn hay ai đó. Bạn hãy tận hưởng những thành quả một cách trọn vẹn nhất mà không cần đặt tên cho nó.
Sa mạc vốn dĩ không nóng bỏng như bạn nghĩ, nguồn nước mát vốn dĩ không xa tít tận chân trời. Bạn cũng không vì thế mà phải gồng mình chịu đựng những sóng gió cuộc đời. Đơn giản thôi: “Như Lai không đứng lại, Như Lai không bước tới, vì thế Như Lai thoát khỏi bộc lưu.”