Phong Cảnh

Núi vốn dĩ chỉ là núi, sông vốn dĩ chỉ là sông. Bạn đã kết hợp nó vào và đặt tên cho nó là Phong Cảnh.

Một mối quan hệ, dù được đặt tên dưới bất kì tên gọi nào, thì tại đó bản ngã đã được hình thành, bản ngã có mặt. Vì nó là một sự kết luận, một sự công nhận, một sự muốn người khác gọi tên và tôn vinh. Bạn càng cho nó cao quý bao nhiêu thì bấy nhiêu đã mất đi tính Không vốn có, tính vô phân biệt vốn có. Tại đó đã có tôi và của tôi. Tại đó có mặt của người trong mối quan hệ, người được trong mối quan hệ. Bản ngã vi tế khéo léo đã làm dày lên các tập hợp tính chất của mối quan hệ để bạn phải gọi nó bằng tên, để nó thỏa mãn. Cũng chính là để bạn tự thỏa mãn, thỏa mãn vì bạn có mặt, thỏa mãn vì bạn được.

Nên là không có thầy, không có trò, không có sư phụ, không có đệ tử, không có mẹ, có cha, không có con cái, không có vợ, không có chồng, không có người yêu, không có tri kỷ, không có chị, không có anh, không có em. Đơn giản chỉ là I và U. Dù là I đóng vai trò nào I vẫn là I. Dù bạn coi U đóng vai trò nào U vẫn là U. Sự kết hợp của I trong U tạo thành sự kết hợp của vũ trụ, một biểu tượng của sự hợp nhất.

Khi hợp nhất, không còn tồn tại I, và U tức là không còn tồn tại chủ thể và khách thể. Trong một mối quan hệ, đơn giản đó là các nhân duyên, các duyên xúc được sanh lên và diệt đi không ngừng. Bạn bắt lấy một “quả” sanh trong mối quan hệ đó, bắt đầu suy nghĩ, đặt tên, gán đối tượng cho nó, tại đó ý thức được hoạt động, tại đó nó không còn là nó, tại đó dòng chảy bị ngắt quãng. Tại đó bạn đã kéo cái toàn thể xuống thành cái cá thể và bạn tưởng rằng bạn được, nhưng thực ra bạn đã mất. Mất đi cái tính thuần khiết, tính dòng chảy, tính toàn thể.

Mặt khác, điều mà ai đó mang lại cho bạn, bạn vốn đặt tên cho nó rất cao quý: tình mẫu tử, tình yêu, tình bạn, tình thầy trò… điều đó đáng được bạn trân trọng và tôn trọng. Nhưng những cảm giác và tình cảm từ mối quan hệ đó mang lại đơn giản chỉ là chuỗi các quả (do duyên sanh của các tương tác giữa bạn và người đó) được bạn nhặt lên, cất giữ, ngắm nghía và lau chùi. Nếu bạn hiểu nó là duyên sanh thì bạn cứ đón nhận điều đến và đi là vừa đủ. Nhưng bạn lại cho rằng nó là ta, của ta, vì sự có mặt của bạn trong mối quan hệ đó. Để rồi bạn muốn nó long lanh theo cách của bạn, muốn thường hằng theo cái lung linh mà bạn cảm, muốn nó không có xây xước, va chạm bởi cả chính hai người trong mối quan hệ đó, lẫn một đối tượng thứ ba nào khác từ bên ngoài. Sự nắm giữ này khiến bạn tự đặt mình ràng buộc trong mối quan hệ, với tất cả các định kiến, thường kiến, tư kiến, tư tưởng… mà bạn có thể khắc họa lên nó.

Bức tranh về một mối quan hệ thực sự vốn dĩ là không màu, không sắc, không hương. Bản âm nhạc về một mối quan hệ thực sự vốn dĩ là những dấu lặng độc lập, bằng phẳng. Vì mỗi cá thể vốn dĩ đều là tính Không. Nhưng rồi, mỗi người tự cho mình một cá tính, một nốt nhạc để mà từ đó có quá nhiều tô vẽ, quá nhiều cung bậc, để rồi bạn tự cho mình cái quyền lấp lánh, và cũng tự cho mình cái quyền u xám, để rồi bạn phải nhảy nhót cao vống, hay quay cuồng chóng mặt, ủ dột với các nốt móc đơn, nốt luyến, nốt trầm. Như vậy đấy.

Chừng nào bạn có thể hiểu, sự có mặt của bạn, hay sự có mặt của bất kì hiện hữu nào, đơn giản chỉ là các tập hợp của 5 uẩn (danh và sắc)?

Dukkha

Đúng là dukkha

Một cái là hoa hồng chồng mình tặng mình, một cái hoa chồng mình tặng người ta, một cái là hoa chồng người ta tặng mình (vừa nhận, mà k biết ai), và cả ảnh miền Trung không hoa.

Nhân chủ đề này, chắc sẽ phải giải thích ý nghĩa của Dukkha – giải xong sẽ thấy các cụ nói đúng “mọi sự so sánh đều là khập khiễng”. Chính vì trong tâm khi Xúc với đối tượng, nảy ra so sánh đối chiếu hoặc là với tri kiến sẵn có, hoặc là với kết quả của Duyên trước đó mà tạo thành sự khập khiễng, không đồng nhất, bất mãn, bất toại nguyện, bất như ý… Nếu hiểu rằng mỗi Duyên xúc đều chứa Dukkha, thì tự vắng mặt sự so sánh, mà nhờ đó Thích, và Ghét không còn cơ hội có mặt. Cũng không khởi lên sự tìm kiếm để thay thế cảm giác trung tính. Sự thưởng thức là trọn vẹn, duy nhất và ngay đó, tại đây, bây giờ, viên mãn. Cũng như sự chấp nhận, bằng lòng ghi nhận với những gì với thực tại đang diễn ra.

Cảm ơn bài học ngày 20.10 hôm nay.

Và chúc tất cả các bạn gái luôn trọn vẹn từng phút giây, dù là hoa, không hoa thì cũng vẫn chỉ là Dukkha.

Phố ơi

Nhân dịp ngắm bức tranh “Phố ơi” của thầy Thắng Trịnh.

Krishnamurti có viết: “Khi bạn so sánh bức tranh này với bức tranh khác, hay bất cứ thứ gì, bạn đang không thật sự chiêm ngưỡng chúng. Bạn hãy sống và đừng bao giờ so sánh mình với người khác ngay cả trong tâm tưởng. Đừng cố gắng sống theo bất kì vị thánh thần hay bất kì lý tưởng nào. Nếu ta không so sánh với mọi đối tượng, ở mọi cấp độ thì tâm trí sẽ trở nên tự tại và sống động phi thường vì nó chỉ nhìn vào “điều đang là” mà thôi.”

Tôi có dịp gặp và học thầy từ gần 6 năm trước, với quãng thời gian học trực tiếp gần 3 năm. 3 năm nay, ít có cơ hội lui tới thầy, nhưng một số bài pháp của thầy đã là nền móng thật sự vững chắc cho những bước đi đầu tiên trên con đường hành giả của mình.

Tất cả tranh hay thơ, kệ của thầy, đều là trạng thái tâm thức nơi các pháp đang liên tục sinh diệt. Dưới sự rỗng lặng, trong sáng, thuần khiết, thầy kịp với tay ghi lại những điều đó, như một sự tri ân trên con đường chứng ngộ của mình, cũng là cái có thể diễn tả một cách hữu hình hơn để chia sẻ với độc giả và học trò.

Ngày đầu, tôi cố hiểu những bức tranh của thầy ngụ ý gì, miêu tả gì. Như một cách chứng minh bản ngã, tôi tìm cách đi qua những dòng tâm thức đó. Tôi muốn chứng minh mình, khẳng định mình. Nhưng tất cả đều bị kẹt lại. Càng cố tìm hiểu, càng cố định nghĩa, càng vướng víu và chật chột.

Rồi một ngày, tôi hiểu, tất cả chỉ có thể “cảm”. Trong Kinh Tứ niệm xứ, Đức Phật có dạy khi thực hành thiền Minh sát: cái gì chưa sanh nay sanh khởi, cái gì đã sanh nay diệt, cái gì đã diệt nay không sanh khởi nữa. Hóa ra cái mà tôi cần đọc, cần tìm hiểu không phải nằm ở nơi các bức tranh và bài thơ kia, mà nó là dòng tâm thức nơi nội tâm của chính mình khi chạm vào chúng. Với sự rỗng lặng, trong sáng, thuần khiết thầy đã gieo trồng. Tôi hít một hơi dài, thả lỏng, và hòa vào dòng chảy nơi các bức tranh và bài thơ đó. Đầu tiên chỉ là sự mờ nhạt, nhạt nhòa. Nhưng không cố tưởng tượng ra, cũng không cố gắng để thấy ra. Cứ chậm rãi, từ từ, với tất cả sự rỗng rang đó, mọi thứ được hiển lộ, và phơi bày như nó là.

Có lúc, tôi đã từng òa lên sung sướng. Một chút bản ngã vống lên thôi, dòng chảy đó lập tức bị ngắt quãng. Và tôi hiểu, bên trong sự rỗng rang đó là một dòng chảy trong suốt, thuần khiết, cần được nhận biết “như thật là”. Và nhiệm vụ của người hành giả là mỉm cười, ngắm nhìn và tĩnh lặng, cũng có thể là một chút tận hưởng sự hỷ lạc nơi nội tậm mình.

Đọc lại câu của Krish, tôi thấy thật thấm thía. Mình không thể cố gắng bắt chước ai và cố gắng trở thành ai đó được. Học trò và người thầy luôn sẽ có những dòng chảy giao thoa, nhưng người học trò cũng có những nét riêng trong dòng chảy của chính mình. Nên tôi không còn cố đi giải thích, chứng minh mình hiểu về tranh và thơ của thầy, cũng không cố kết luận nó theo cách tư kiến của mình nữa. Tôi hiểu thật rõ ràng câu thầy đã dạy đi dạy lại bao lần: “chạm là buông”. Dừng lại ở tâm biết trực tiếp khi tiếp cận đối tượng, đừng suy nghĩ gì. Và trong sự rỗng rang, trong sáng đó, cái nhận biết là dòng chảy không ngừng của các duyên sanh. Không bám, không buông, chỉ cần nhận biết và thấy ra như thực nó đang là để từ đó thực chứng ra sự vô ngã của các pháp, sự vô thường của các hành.

Tôi mỉm cười, nhặt vài lọ màu, thư giãn, thả lỏng, và cũng pha pha, hòa hòa tạo nên vài bức tranh mang dòng chảy riêng mình như một sự tri ân đến người thầy của mình.

Đạo hữu

Đầu tuần, gửi tới các bạn một trường hợp cụ thể về một doanh nhân thiền. Tại sao anh khó khăn với thiền Tứ niệm xứ và càng ngày càng rối hơn? Tôi đã từng trao đổi với anh, bản thân anh ngoài trao đổi với tôi thì lặn lội hỏi han mỗi người một chút, nhưng vẫn không ổn. Và để cụ thể lại câu trả lời cho anh, tôi viết tổng hợp qua đây (thực ra chỉ có vài ý thôi, mà phải diễn giải dài dòng như này, nhưng là để cho rõ ràng, hy vọng dài loằng ngoằng ntn k khiến mọi việc lại loằng ngoằng hơn ).

Tôi biết anh trong một khóa thiền tập trung. Mục đích của anh đi học thiền là vì công việc quá nhiều áp lực, căng thẳng, stress… và anh mong muốn những phút giây thư giãn, thoải mái, tĩnh lặng hơn khi tìm đến thiền. Đa số doanh nhân tìm đến thiền là thế. Tôi cũng từng như thế. Vì những thông tin về thiền được rao giảng là như thế. Có lẽ ai đó đọc đến đây cũng nói, một trong những kết quả của thiền cũng thế.

Phải nói về lý do ở trên vì lý do to hơn lý trấu mà. Cái mục đích của mình định làm một cái gì đó nếu khi mình thực hành nó không đem lại như vậy, k như mình nghĩ thì mình thấy sao sao ấy.

Thiền mà anh mong muốn, mà anh nghe được ở đâu đó trước khi đi học khóa tu đó là một khái niệm mà bên ngoài gán cho là Thiền – ngồi xuống, nhắm mắt, giữ đầu óc thân tâm buông lỏng tự nhiên, không nghĩ gì, hoặc có thể tưởng tượng đang được tới một khu rừng đầy tiếng chim, một bờ biển ngập tràn nắng gió và sóng vỗ rì rào, thả lỏng, thả lỏng và thư giãn tuyệt đối để thân, tâm hòa nhập với tự nhiên như vậy. Công nhận là nó rất là thư thái, thoải mái, những giây phút ở trong “thiền” này chẳng muốn rời. Ai đó phá buổi thiền thì khó chịu lắm. Phải ra ngoài làm việc càng khó chịu.

Hệ thống Kinh Phật chia ra hai khái niệm Thiền Chỉ và Thiền Quán. Thiền Chỉ thì dùng nỗ lực, ý chí cá nhân buộc tâm vào một đối tượng lấy đề mục là hơi thở, hay phồng xẹp, hay một điểm chạm nào đó nơi thân vật lý để tâm ý luôn hướng đến đó. Nhưng với một người mới hành thiền, điều đó thực sự là khó khăn với các vọng động sẵn có trong tâm. Cứ ngồi yên mà bảo hướng tâm tới đề mục tĩnh được chút là nó lại nhảy đi đâu mất. PP bên ngoài là tưởng tượng ra núi rừng chim hót, biển xanh cát trắng thì dễ hơn vì đầu óc con người ta được bay bổng, được thỏa trí vọng tưởng, và giống như đang ở nhà được đi du lịch tâm trí thì thích thú thôi. Nên khi không làm được càng khó chịu. Càng không làm được càng rối.

Còn nếu đi vào thiền quán, thiền Tứ niệm xứ. Lấy đề mục là Thân Thọ Tâm Pháp thì càng loằng ngoằng hơn. Đầu tiên phải kể tới là khái niệm. Giải thích là một chuyện, hiểu nó lại là chuyện khác. Mà cơ bản là nó quá khó đi. Đã khó rồi lại còn nhiều. Phần Thân thì có quán hơi thở, 4 oai nghi, 32 tướng tốt, nội thân, ngoại thân, tử thi…. phần thọ thì có khổ thọ, lạc thọ, bkbl thọ, rồi chia 18 thọ hay thậm chí tới 108 thọ… phần tâm theo kinh thôi đã có tâm tham sân si, tâm quảng đại k quảng đại, tâm phóng dật, k phóng dật…. phần Pháp thì có: 5 triền cái, 6 nội ngoại xứ, 7 giác chi, 12 nhân duyên, 4 thánh đế, 8 chánh đạo… Viết khái niệm thôi đã mỏi tay. Chưa kể thiền Tứ niệm xứ là quán luôn các hoạt động thân, tâm khi vừa xảy ra. Và tất nhiên, càng để ý càng điên loạn. Kiểu như rõ ràng tôi biết khi tâm có tham sân si, sao càng quán càng tham, càng quán càng sân… Vì vậy đây được cho là một loại pháp hành khá khó khăn.

Với một người có bản ngã, là doanh nhân, khi học thì đâu chịu dừng lại ở biết vậy, cái gì hiểu, dễ thì thực hành trước. Khi tiếp cận cái mới thì hiển nhiên cái gì cũng muốn thỏa mãn tâm trí của mình. Một loạt khái niệm như thế, mỗi tông phái một kiểu, thầy này một kiểu, thầy kia giảng một kiểu, mỗi sách, luận viết một kiểu… đó là chuyện rất hiển nhiên của gần 2600 năm nay rồi, từ khi Phật nhập diệt. Nên cố tình muốn hiểu nó tường tận khi chưa hành hẳn hoi, muốn thỏa mãn cái bản ngã, hiểu biết của mình thì chỉ càng làm mọi thứ rối lên. Ai đó sẽ nói phải hiểu đúng mới hành đúng. Đúng là vậy, nhưng chọn một đề mục ở phần quán thân thôi chẳng hạn mà hành cho đúng rồi hãy lăn lộn với đống khái niệm kia. Chứ ôm đồm vậy chắc chết luôn quá. Muốn thỏa mãn sự hiểu biết của mình thì chết thật rồi.

Đó là nói về pp hành mà anh ấy tiếp cận. Nhưng ngoài ra, nó cũng xuất phát từ cái tham, thì phần thứ hai quan trọng là không học được chữ nào của Tứ niệm xứ hết. Vì ngay khi các giác quan tiếp cận thế giới bên ngoài, thì một loạt câu hỏi đã được phơi bày sẵn:

– đây là cái gì?

– cái này là ntn?

– sao lại thế này?

– sao k phải là thế kia?

Một loạt các câu hỏi được hỏi về đối tượng vì nó quá mới mẻ với anh. Nếu thông tin dung nạp nó được tự giải đáp, hoặc nó tạm thời được giải đáp thỏa mãn thì tâm trí tạm dừng lại. Nhưng vì chưa có Chánh kiến, còn Hoài nghi, nên hệ thống tư duy lại tiếp tục hoạt động: hay là mình hỏi người này xem người ta giải thích thế nào. Câu trả lời nhận lại, tạm tương thích thì lại yên ắng được một chút, thì hay hỏi người này xem… Và tất nhiên, k hẳn thầy bói xem voi, nhưng mỗi người với một khái niệm đều có cách tiếp cận khác nhau theo duyên của họ. Nếu là người k thông hiểu, thì tự dưng thấy chúng khác và tâm trí lại loạn lên.

Điểm thứ ba, là anh ấy không chấp nhận và nhận diện được những phiền não đang khởi lên trong tâm. Xuất phát điểm là có phiền não mới đi thiền. Đi thiền khó càng phiền não. Khó rồi hỏi người khác mà k ai giống ai lại càng thêm phiền não nữa. Phiền não chồng phiền não. Càng đi càng rối. Càng đi càng quẫn. Tại sao k thấy phiền não cũ thuyên giảm, giờ thêm đống văn-tư này càng thêm đảo lộn? Và cái này là tham an.

Như bài trước mình có nói, con người ta luôn thích nói dối về phiền não của mình, tìm cách tránh né nó và bảo: tôi không sao đâu, k có vấn đề gì, vô thường, vô ngã ấy mà… Vì đầu tiên, phiền não gây cho bạn một phản ứng khó chịu không chỉ nơi tâm mà cả trên thân thể. Bạn cứ thử đợi tắc đường mà xem. Bạn cứ thử nghe tin tháng này chưa có lương vì covid mà xem… Những biểu hiện đó cực rõ nơi thân thể, và bạn không muốn chịu đựng nó. Bạn sẽ tìm cách giải thích tại sao lại thế, sao lại có thể thế được, mình phải đi hỏi ai đấy, mình phải tìm bác sỹ tâm thần… Mà không chịu lắng lòng ngồi lại. Tọa thiền là lúc bạn đối diện với các phiền não sanh khởi, nhận diện nó, tìm hiểu về nó, tuệ tri lý duyên khởi của nó để tìm ra mắt xích vô minh, chấp thủ nơi tâm mình. Nhưng không, bạn vội vàng từ chối nó, sợ hãi nó, tìm cách tránh né nó. Ngoài việc chạy tứ lung tung thì còn tìm những phương pháp vào Định để loại bỏ phiền não nơi tâm mình. Tôi chỉ có thể dùng từ: hèn nhát ở đây.

Tôi không muốn đi sâu vào giải thích về tại sao lại có phiền não, vì loanh quanh nếu chung chung thì nằm trong tham sân si. Nhưng mỗi người nếu đi thẳng vào nó đều hiểu được tại sao mình còn phản ứng với các cảm thọ đó như vậy.Hãy dám nhận diện nó, dám thừa nhận nó. Vì còn đang trên đường tu tập, đặc biệt mới tu tập, phiền não càng nhiều, vì lúc này, bạn đã bắt đầu soi lại tâm mình. Thực ra mặt bạn lúc nào chẳng bẩn vì có lỗ chân lông mà. Nhưng nếu bạn k soi gương, chỉ sờ sờ thôi, thì ok, không sao. Và bạn cần hoan hỷ và vui mừng mình đã nhận diện được nó nhiều hơn. Giờ cái cần là:

– cái gì chưa sanh nay sanh khởi

– cái gì đã sanh nay đoạn diệt

– cái gì đoạn diệt nay không sanh khởi nữa

Nên hãy tự tin, như một người bước lên đỉnh, từ trên đỉnh bạn sẽ nhìn rõ hơn, dù hành trình lên đỉnh có vất vả, gian khổ, tốn sức thế nào. Đừng chạy một vòng quanh núi, tìm một cái thân cây trú ngụ, hay cho rằng nó tự sanh nó tự diệt. Đúng là nó vốn dĩ vẫn tự sanh tự diệt mà. Nhưng qua cái sanh diệt đó, bạn học được cái gì. Giống như quán hơi thở, ngày đầu tôi niệm hơi thở, bạn tôi bảo: hơi thở lúc nào chẳng vào chẳng ra, làm sao phải theo dõi hơi thở làm gì.

Trong bài Kinh Kìtàgiri, Đức Phật đã nói: “Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng trí tuệ được hoàn thành lập tức. Nhưng này các Tỷ-kheo, trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một vị có lòng tin đi đến gần; sau khi đến gần, vị ấy tỏ sự kính lễ; sau khi tỏ sự kính lễ, vị ấy lóng tai; sau khi lóng tai, vị ấy nghe pháp; sau khi nghe pháp, vị ấy thọ trì pháp; sau khi thọ trì, vị ấy suy tư ý nghĩa các pháp được thọ trì; sau khi suy tư ý nghĩa, các pháp được chấp thuận; sau khi các pháp được chấp thuận, ước muốn sanh khởi; sau khi ước muốn sanh khởi, vị ấy nỗ lực; sau khi nỗ lực, vị ấy cân nhắc; sau khi cân nhắc, vị ấy tinh cần. Do tinh cần, vị ấy tự thân chứng được sự thật tối thượng, và với trí tuệ thể nhập sự thật ấy, vị ấy thấy.”

Từ từ không hẳn chỉ là chỉ thời gian, cứ tu đi rồi sẽ tới, mà cần phải hiểu tu như thế nào. Từ từ để không còn lòng tham, không còn sợ hãi khi thực hành. Muốn tu tập để hướng thượng là tốt. Nhưng muốn tu tập để được nọ được kia, để không phải bị nọ bị kia sẽ đưa chính người tu vào vòng luẩn quẩn như anh bạn ở trên. Việc cần làm là tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác chứ không phải để tâm ý mình chạy loạn lên, và bản thân mình cũng loạn lên như vậy.

Tôi không có ý định chê trách anh ấy, mà với tâm từ của mình, tôi viết ra được những điều này vì chính bản thân mình đã trải nghiệm tương tự. Đã có lần, chồng tôi – một gv dạy thiền còn bảo: vợ đi học hết lớp 1 ở VN, lại chạy sang Úc học lớp 1, rồi lại sang Mỹ… Tôi thật mong rằng, không còn nhiều người tương tự như vậy. Tôi đã từ bỏ ý muốn thỏa mãn “tri thức” nơi tâm mình. Nếu thấy tâm mình quá nhiều vọng tưởng, không thể tọa thiền, tôi thiền hành. Tôi kiếm những thứ sở thích như học hát – để theo dõi hơi thở rõ hơn; học võ để theo dõi cử động tay chân hông eo; học đàn để quán âm thanh theo nốt, phách; học vẽ để theo dõi cử động ngón tay… Nếu thấy quá muốn tìm hiểu, tôi search từ khóa vào file 5 bộ Kinh Pali lưu dưới dạng word và đọc tất cả các khía cạnh mà đức Phật nói về vấn đề đó.

Có một câu mà mọi người hay nói: thành công là quá trình và khó khăn là tạm thời. Nhưng tôi xin viết lại theo cách của mình: THÀNH CÔNG LÀ CÁM DỖ VÀ KHÓ KHĂN KHIẾN MÌNH TRƯỞNG THÀNH.

Cô hàng xóm

Trở lại câu chuyện của mấy cô theo Thiên Chúa giáo. Hôm nghe mình nói chuyện với cô kia về Phật và Chúa, có một cô khác không nói gì, nhưng hôm sau lại hỏi mình.

– Cháu à, cô đã tín thác hết vào Chúa. Từ ngày cô gặp Chúa, cô thấy mình lòng thật bình an. Mọi thứ với cô đều thay đổi. Chỉ duy nhất, cô với con dâu là vẫn không thể thật sự tốt. Con dâu cô vẫn thế nọ, thế kia… dù cô đã gửi gắm nơi Chúa, cầu nguyện nơi Chúa.

– Vâng cô ạ. Cháu xin phép trả lời chút ít trong hiểu biết của mình. Việc con dâu cô thế nọ thế kia thì đó là do tính cách của em ấy. Cô k thể thay đổi một người trong một thời gian ngắn. Nhưng cái quan trọng là cô còn phiền não khi đối diện con dâu mình.

+ phiền não thứ nhất là sao cô đã cầu chúa mà k được, làm cô dần dần mất niềm tin

+ phiền não thứ hai là cô mong con dâu tốt theo cách của cô mà k được

+ phiền não thứ ba là sao cô thấy mình vẫn còn phiền não với người khác

Ngần đó điều làm cô vọng động. Giống như cơn gió được thổi, nó lại làm bùng lên những ngọn lửa tham, sân, phiền não nơi cô và cả con dâu cô. Cô không thể thấy được suy nghĩ, giống như cô không thể thấy được cơn gió, nhưng sự thực là chúng có mặt. Vì chúng có mặt nên chúng mới sinh ra phiền não, tồn tại phiền não nơi cô như vậy.

Cô hãy cứ đối diện với phiền não của mình. Thừa nhận mình vẫn chưa thật sự bình an. Con người ta sợ, ghét nói dối. Nhưng lại thích lừa dối chính mình, thấy tâm mình vọng động thì tìm cách lẩn tránh và mặc kệ, hoặc cho rằng đó là không phải việc của mình. Phiền não của người thì nên tránh né, còn phiền não của mình thì cần đối diện. Cần biết mình vẫn còn vô minh, bản ngã, tham sân si mới sinh ra như vậy. Cần tự sám hối về những ý nghĩ bất thiện khởi lên trong tâm mình. Cần tha thứ cho mình, và cả tha thứ cho người. Chúa dạy luôn luôn tha thứ mà.

Cô cần nhận ra rằng, Chúa đang cho cô một bài học. Học cách yêu thương thực sự. Học cách yêu thương như Chúa. Nếu mỗi bóng hình con dâu đi qua, mỗi âm thanh con dâu nói vọng bên tai, vẫn còn khiến cô phiền não là cô còn suy nghĩ về các đối tượng, còn định kiến về người con dâu ấy. Cô chưa thể có cái nhìn bình đẳng người con dâu ấy như bao người con gái khác ngoài kia. Nếu cô có thể hiểu được và học được cách yêu thương vô điều kiện của Chúa, cô sẽ không còn khó chịu nữa.

Chút vậy ạ. Cháu tin cô sẽ hiểu và làm được.

Cô nắm tay mình và cảm ơn. Cảm ơn những lời lẽ đơn giản của cháu mà làm cô hiểu hơn về Chúa. Bấy lâu nay cô bên Chúa mà cô không hiểu và chưa học được nhiều từ Người.

Hạnh phúc

“Chúng ta có quyền được hạnh phúc và không những thế chúng ta còn có trách nhiệm trở nên hạnh phúc. Tại sao ư? Vì nó có tính lan truyền, mọi thứ đều có tính lan truyền. Khi bạn hạnh phúc, bất cứ ai gặp bạn cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc.” Sayadaw U Jotika trong bài chú giải Kinh Mangala Sutta

Nhưng điều này khác hoàn toàn với việc bạn cố tỏ ra rằng mình hạnh phúc, tự xây dựng một hình tượng cho chính mình như một con người ảo – hay một người mà bạn mong muốn sẽ trở thành như vậy. Bạn quên đi phần tối, phần đau khổ trong mình, không dám thừa nhận, bước ra, chùm lên nó một cái mềm kín mít nhưng tiếc rằng mềm đó lại trong suốt.

Nó cũng không phải là sự tự cho rằng việc mình làm là đang đem đến hạnh phúc cho người khác, cho xã hội, cho môi trường, cho thiên nhiên. Bạn vẫn còn cho rằng bạn có thể tác động đến thứ gì khác ngoài chính Ngũ uẩn của mình? Hay là đang tạo ra một Duyên lành? Bạn có kịp nhận ra Bản ngã đã chình ình ở đó?

Cả hai điều này rất sâu kín và khó thấy. Nó nằm sâu dưới đáy Vô thức của bạn. Nó nhân danh lòng Tốt, Hòa Bình, Hạnh Phúc và Nhân loại. Duyên ư? Tự nhiên chẳng nhẽ vẫn còn thiếu không đủ? Nếu bạn không nhận ra Tự nhiên đã quá “Giàu có” như thế nào thì thật là một điều đáng tiếc. Và cũng chính vì thế, bao nhiêu kẻ đã đang dể Duyên trôi qua trước mắt với sự Vô minh của mình.

Nói vậy không có nghĩa là bạn không làm gì. Mà trước tiên hãy đối diện và hành xử với ngũ uẩn của mình. Xem cái gì

– chưa sanh nay sanh khởi

– cái gì đã sanh nay đoạn diệt

– cái gì đoạn diệt nay k còn sanh khởi nữa

>>chỉ tới khi đó hạnh phúc của bạn mới là hạnh phúc thực sự:

– một trạng thái hỷ lạc do ly dục, ly bất thiện pháp

– một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm

– một trạng thái cảm sự lạc thọ mà bậc thánh gọi là “xả niệm, lạc trú”, ly hỷ trú xả

– một trạng thái xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh

Hạnh phúc thực sự này từ bạn toát lên có tính lan truyền và thẩm thấu thực sự tới bất cứ trái tim nào mà không nhân danh bản ngã của bạn, cũng như vấp phải bản ngã của người.

Ăn chay và Facebook

Ngày tôi mới ăn chay, mới đầu ngon lắm. Sau 3 ngày, cơn thèm thịt nổi lên. “Phá giới”. Sau đó là một tuần, sau đó là một tháng, sau đó là 3 tháng… Sức chịu đựng cứ kéo dài dần ra. Không bàn đến tại sao tôi ăn chay, có nhiều lý do, kể ra cũng loằng ngoằng. Sau 3 năm, giờ thì, mọi người bảo chay mặn như nhau nên tôi bị ăn kiểu tùm lum. Với bất cứ lý do nào đi nữa, dù nói rằng bây giờ tôi không bị cảm giác tìm cầu, tưởng tượng ra món ăn gì khi đói, nhưng sự thực: tôi đã thất bại với ý định ban đầu là ăn chay. (Nếu ăn được chay tốt cho tôi, vì hệ tiêu hóa của tôi k dung nạp thịt.)

Facebook cũng thế. Tôi cũng có ý định (mới chỉ là ý định) cai fb. Vì đi thiền hay vào núi 10 ngày tôi cũng không thấy làm sao khi k dùng fb. Ở nhà thì ib nói chuyện, trao đổi công việc, pháp tu nên nhiều khi up vào chỗ “Bạn đang nghĩ gì?”. Nhưng nếu không phải 10 ngày là 30 ngày hay 3 tháng, hay 1 năm, 3 năm… thì sao nhỉ?

Chỉ biết rằng, bạn vẫn còn muốn khoe cái nọ, khoe cái kia, chứng tỏ mình. Hay muốn mượn fb để nhắn nhủ ai đó cho thỏa mãn bản ngã. Hay muốn mọi người đồng thuận với mình, thích thú người khác đồng thuận. Và cảm thấy mình có Ý Nghĩa với người khác thì bạn vẫn còn up fb dài dài, sẽ k thể dừng lại được điều đó. Dù nói rằng, tôi up và không có ý gì cả, nhưng sự thực bạn đã thất bại.

Nên có chăng, không phải là học và hiểu bao nhiêu, chứng cái gì, bao lần. Mà bạn có thể sống từ giờ đến cuối đời, trọn vẹn với hai chữ PHẠM HẠNH, xứng với người học theo Phật, đó mới là khó. Đời này có lẽ sẽ chẳng biết bạn là ai nếu bạn không up fb, nhưng cái bạn được có lẽ nhiều hơn rất nhiều…

Đừng đổ lỗi cho lý do, và dùng mọi lý lẽ ngụy biện, vì giải thích thì luôn đúng với bạn.

Thích nghi

Ngày nhập trường, cái mà các bậc cha mẹ bàn nhau, tại sao chọn trường này hay trường kia chính là mong cho con được ăn học, được dạy dỗ để sau này con lớn lên dễ thích nghi với môi trường, với xã hội. Mà có biết rằng, chính chúng ta, cũng luôn tự mong muốn mình có khả năng thích nghi với điều kiện, ngoại cảnh sống.

Khả năng thích nghi là một lối sống tích cực, không ngại khó, không ngại khổ, không ngại sự thay đổi, ngoài vùng thoải mái. Chính vì vậy, người có khả năng thích nghi luôn nắm bắt rất nhanh với cuộc sống ngoại cảnh, không bị ngoại cảnh gây khó chịu, bất an, lo lắng, hay sợ hãi. Người thích nghi là người chấp nhận gian khổ, chấp nhận sai, chấp nhận hỏng và cả chấp nhận mất mát. Và khả năng thích nghi của mỗi người được ví như loài Tắc kè – liên tục biến hóa. Nhưng có thực như vậy?

Phương pháp để thích nghi?

1. Sự rèn luyện: Một người khả năng chịu được nhiệt độ thoải mái là 25 độ C, nhưng là một nhà tình báo, một trinh sát, người này bắt buộc phải làm việc ở vùng lạnh giá hay sa mạc, thì người này hoàn toàn có khả năng thích nghi do đã được rèn luyện để làm quen với điều đó. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi công phu tập luyện, tạo sự thích ứng của từng loại giác quan thậm chí thích ứng với từng đối tượng ngoại cảnh. Mà ngoại cảnh thì luôn biến đổi không ngừng, mà thời gian thì có có hạn, nhiều khi cảnh xảy ra đột ngột mà chưa có sự rèn luyện thì coi như rơi vào khủng hoảng.

2. Sự chấp nhận: Ví dụ Covid vừa rồi, thì việc cách ly, khiến chúng ta phải thích nghi với việc bị chôn chân ở nhà cả tháng trời. Chúng ta phải chấp nhận điều này vì đó là quy định xã hội, điều kiện ngoại cảnh bắt buộc. Khi chúng ta chấp nhận điều đó, chúng ta sẽ thấy thích nghi với sự kiện xảy ra bên ngoài chúng ta. Nhưng sự chấp nhận là miễn cưỡng, tạo quy định từ bên ngoài và người thực hiện buộc phải theo. Nó vẫn tạo ra sự thích nghi, nhưng là sự thích nghi giả tạm, tạm thời. Ví dụ: nhà nước quy định 14, thì trong 14 ngày sẽ cảm thấy thích nghi, nhưng sang ngày thứ 15 mà chưa dỡ bỏ là khó chịu.

3. Quán tưởng: Có nhiều phương pháp dạy chúng ta thích nghi bằng cách tưởng tượng. Giống như câu chuyện con Cá gỗ vậy. Nhớ xưa ở phòng trọ nóng quá, tưởng tượng xung quanh trời không nóng, tự kỉ ám thị là không có nóng để cảm thấy là xung quanh nó mát. Cũng thấy đỡ nóng hơn thật. Nhưng chúng ta lại luôn có một cái ngã tồn tại ở đó, mà bình thường khó có thể nhận ra. Dù là liên tục tự kỉ ám thị nhưng nó không đồng ý thì nó vẫn hành xử theo cách của nó. Giống như một đứa bé, nhìn thấy phích nước nóng, người lớn có quát lên: nóng, nóng, nóng…. nó vẫn cứ phải đưa tay sờ một cái mới chịu được. Ngoại cảnh mới thay đổi, và nếu tương thích với tham sân si của mỗi người thì nó vẫn sẽ phản ứng một cái đã rồi mới chịu nghe lời ông bạn tự kỉ ám thị. Tức là sự kiện thích nghi vẫn xảy ra sau. Mà nhiều khi sự đã rồi thì cũng xong.

4. Sự thấu hiểu: Sự thấu hiểu này có vẻ giống chấp nhận, nhưng không phải như vậy. Sự thấu hiểu là hiểu nguyên nhân, lý do tại sao lại như thế. Hiểu chúng ta cần làm gì. Hiểu không có cái tôi, cái ta nào làm chủ cuộc sống ở đây. Hiểu không có gì là thường hằng, bất biến ở đây. Sự hiểu đó là thật sự, là thực chứng rõ nét, khiến cả thân và tâm chấp thuận thực sự. Vẫn ví dụ đứa trẻ thấy phích nước ở trên: nếu nhắc nóng nóng thì nó vẫn thử tiếp đã. Nhưng khi nó thực chứng, sờ tay vào thấy nóng rõ ràng (hãy quan sát lại một đứa trẻ sờ phích nước, vì bị nhắc nóng nên nó cũng cẩn thận, rón rén thò tay ra, nhưng thấy chưa đủ nóng, nó k tin, và lại thò tay ra lại, để lâu hơn, lần này nóng rõ ràng thì nó mới bỏ đi), là sự thấu hiểu thực sự thì lần sau nó sẽ không sờ nữa. Giống như sự thấu hiểu về Vô thường, Vô ngã ở trên cũng vậy. Nếu chỉ niệm, niệm.. và tư duy hiểu vậy thôi thì không thể có thực chứng rõ nét. Để thực chứng rõ nét về vô thường, vô ngã, đòi hỏi công phu tu tập trên các xúc xứ, chà đi chà lại, tạo nên một sự nhạy bén về chánh niệm, dẫn tới trí tuệ thực sự về đối tượng.

Có một điểm, 3 phương pháp có được sự thích nghi ở trên, thì vẫn luôn bị nhỡ một nhịp so với sự kiện xảy ra, và liên tục phải tập luyện để khi thay đổi ngoại cảnh thì chúng ta có khả năng thích nghi. Vì hiện tướng của ngoại cảnh chẳng bao giờ giống nhau, dù là cùng một biến số. Nhưng với pp thứ 4, thì khi có thể thuần thục trên một đối tượng, khi có thể thấu hiểu về một điều, thì sẽ thấy vạn pháp như một, cũng chỉ là sự biến tướng của tâm mà thôi. Chính vì vậy, sự thích nghi sẽ lập tức bắt kịp khi có đối tượng mới xảy đến.

Với 3 pp trước, thì cảnh thay đổi, tâm cũng đổi theo để thính nghi. Nên sự thích nghi được ví như con tắc kè hoa. Và cũng chính vì hiểu biết như vậy, nên mới có câu: đổi tâm không đổi cảnh. Vì rằng cảnh là như vậy, thì để thích ứng thì tâm thay đổi theo để thích nghi. Nhưng với pp thứ 4, thì dường như cảnh đổi, nhưng tâm không có bị thay đổi theo. Giống như cái bánh xe, vòng ngoài cùng cứ xoay, còn trục lõi thì cứ đứng yên vậy. Ở đây, k phải là hiểu rằng tâm là một cục thống nhất. Mà sự thích nghi này là do hiểu đúng về tâm là ngũ uẩn, về nguyên nhân – duyên khởi có mặt, do hiểu đúng về thế giới bên ngoài là biến tướng của tâm, nên chẳng còn bận tâm gì tới cảnh, cũng chẳng bận tâm gì tới tâm. Vì tâm cũng chỉ là ngũ uẩn, nó cũng vô thường, vô ngã vậy. Tâm thay đổi liên tục, và cái chúng ta thấy về trần cảnh là các cảm giác cũng thay đổi theo liên tục. Chúng cứ thế mà diễu hành xuất thế gian.

p/s: thôi thì trước mắt mẹ cứ cho con được rèn luyện để thích nghi, lớn chút nữa mẹ dạy BCĐ cho con nhé.

Lên đồng

Lên Đồng, giải mã bí mật pháp hành theo ngôn ngữ kiểu Phật gia và Đạo gia

Lên đồng hay hầu đồng, là một nghi lễ trong văn hóa Đạo Mẫu. Lịch sử Đạo Mẫu được các nhà nghiên cứu lịch sử chỉ ra rằng có từ thời tiền sử, mà dân tộc ta dùng để thờ Mẫu (Mẹ thiên nhiên, Mẹ Âu cơ, Mẫu Liễu hạnh …). Lên đồng là hình thức giao tiếp với thần linh thông qua Thanh đồng – dạng trung gian, kiểu như tivi tiếp thu sóng vô tuyến và phát lại vậy, một dạng vong bậc cao nhập.

Tại sao lên đồng có thể kết nối với thần linh?

Hãy quan sát, mỗi thanh đồng được chụp một cái khăn đỏ, rộng, kín. Sau khi chụp khăn, thì mắt không nhìn thấy gì, tai cũng ít nghe – ngăn trừ được ối phiền não từ bên ngoài. Mũi bị khăn trùm dẫn tới khó thở, hơi thở toàn khí cacbon nên phải hô hấp mạnh hơn để hấp thu khí oxy còn dư. Cũng vậy, thân thể, nhất là trời nóng, ngoài trang phục của Thanh đồng, lại thêm cái khăn nên nóng bức, thân nhiệt tăng. Lúc này, Thanh đồng cảm nhận rõ hơi thở vào ra, cảm nhận rõ cái nóng trên thân thể, lại thêm không nghe thấy gì, không nhìn thấy gì, nên các cảm giác nơi hơi thở và thân là nổi trội, k mất công chú tâm mà tự động chú tâm. Vì vậy, dẫn tới sự tự động tinh tấn đưa tới định.

Có một điểm mà những người đi xem hầu đồng đều thấy, là những Thanh đồng này sau khi trùm khăn một lúc thì bắt đầu lắc nhè nhẹ. Những người hát chầu văn bên ngoài thì: lậy cô, cô về… Như một lời nhắc nhở: cái thân xác này không phải của ta, ta đừng chú tâm lên đó nữa, mà để ý vào sự rung lắc, kết nối đi. Và việc lắc lư này tiếp tục diễn ra theo lời hát của các cung văn.

Sau đó, tới đoạn í i a, í à ỉ a… thì Thanh đồng bỗng giật khực, người đứng im. Lúc đó được hiểu như thần linh đã nhập vào thanh đồng rồi đó. Mà bên tu thiền gọi là nhập định – chẳng thấy hơi thở đâu nữa, chẳng thấy thân đâu nữa… Trạng thái này được miêu tả trong rất nhiều trong các kiểu hướng dẫn thiền. Nhưng thực chất đó là do người thực hành đang đánh mất ý thức tâm trí, hoàn toàn k còn sự minh sát, hay tuệ tri mà Đức Phật đã nói tới trong Kinh tứ niệm xứ. Một số người có thực hành thiền minh sát nhưng khi việc quan sát thô đưa tới định được xảy ra, rơi vào không tầm không tứ của nhị thiền thì bắt đầu trượt vào tà định do ham mê trạng thái bặt bặt, vắng vắng, lặng lặng do định sinh này. Trong hầu đồng hay bên ngoài thực hành đều bắt gặp những người như vậy: đứng dậy, bắt đầu múa, giảng, thuyết, ban truyền ý chỉ của thần linh, các vị ở trển, cho rằng ta có cái lọ, ta có cái chai, thế này mới là pháp, thế này mới là đích….

Cũng vì việc nhập định nhanh như vậy, lại có khả năng kết nối với thần linh biết việc đông, việc tây, nên một số trường phái khí công, đạo gia đã áp dụng thực hành cả ngàn năm trước với nhiều tên gọi mỹ miều. Bản thân người viết cũng tham gia rất nhiều buổi hầu đồng, và thực hành, trải nghiệm phương pháp lắc lư của khí công theo kiểu thanh đồng này từ gần 10 năm trước.

Theo khí công, đạo gia, thì phương pháp lên đồng này, sẽ giải phóng khí bị ứ trệ ở trung khu DỤC của thân (phần dưới rốn, vì khi lắc giữ nguyên thân trên và vai, cổ, đầu). Nhất là với người ngồi thiền nhiều, thì sẽ bị ứ trệ, táo bón, khả năng SHTD kém. Chính vì vậy, những môn sinh khí công đạo gia vô cùng thích thú phương pháp này. Vì ngoài việc nhập định nhanh, có khả năng thông linh thì khả năng sinh lý được cải thiện, thậm chí có thể “tự sướng” khi đang tọa thiền, k mất công tìm đối tác.

Đó là những cái lợi ít ai biết của kiểu Lên đồng trong Đạo Mẫu mà các hành giả Phật gia (dùng để dễ vào định) và Đạo gia (dùng để giải phóng khí ứ trệ) bí mật thực hiện.

Nhưng chẳng biết nó bổ ngang, bổ dọc chỗ nào, mấy cục tham sân si sau khi thoát “đồng” vẫn to một cục, cứng chắc như đồng. Đặc biệt là tham dục chẳng thể vợi đi mà chỉ có thấy dưỡng trưởng ngày càng mạnh mẽ. Chắc p thực hành thêm chục năm nữa mới chán cái món này. Ly dục, ly bất thiện pháp đâu không thấy, thấy lù lù một con “ma” to vật. Tí té ngửa.

Đã là tu thiền, thực hành thiền thì k thể nói là tự nhiên như nhiên được (đó là trạng thái tâm thành tựu), nhưng cần phải biết nó là sự tác ý chân chính. Thiền là một trạng thái tâm, mà k phải có thể chỉ dùng kỹ thuật để đạt được.

Sơ thiền: ly dục, ly bất thiện pháp

Nhị thiền: nội tĩnh nhất tâm

Tam thiền: xả niệm lạc trú

Tứ thiền: k lạc, k khổ, tâm thanh tịnh nhờ xả

Chưa cần nói sự nhầm lẫn hiểu Thiền là Định thì ngay từ đầu, đã khởi niệm Dục để vào định, mong có định, nhanh có định, khi có định tự mãn với định, cho rằng định là thường hằng mà trú trong định thì làm gì có Ly dục, Ly bất thiện pháp nên không bao giờ là Chánh định được.

Chưa nói tới Thiền (thiền quán) theo phương pháp Tứ niệm xứ là sự thực hành minh sát, TỪ TỪ với các đối tượng sinh khởi có nhân duyên hay với không do nhân duyên để tạo ra sự Nhạy bén của tâm, thấy biết như thực về thực tánh của pháp, chứ không phải do Văn – Tư mà đúc kết lên, thì vẫn cần nhớ DỤC TỐC BẤT ĐẠT.

Hôm nay, lễ xá tội vong nhân, em nhập đồng, lên huyên thuyên với làng FB. Đấy, mướp nhà em không chỉ có Thẳng, Cong mà còn cả Xoắn nhá.

100-1

Lại chuyện con số: (cải biên)

Thầy giáo viết lên giấy 4 phép tính:

2+2=4;4+4=8;8+8=16;9+9=19

Ngay lập tức, các học trò nhao nhao lên:

“Thầy ơi, thầy tính sai một phép tính rồi.”

Thầy giáo ngẩng đầu lên, chậm rãi nói: “Đúng thế, mọi người đều nhìn thấy rất rõ, phép tính này ta đã tính sai rồi. Nhưng 3 phép tính trước tính đúng, tại sao không có một ai khen ta mà chỉ nhìn thấy và lập tức chỉ ra phép tính sai của ta?”

ĐẠO LÝ 100 – 1 = 0

Làm người cũng vậy, khi bạn đối xử tử tế với người khác 100 lần, họ có thể cũng chẳng nhớ, nhưng chỉ 1 lần bạn làm họ phật ý, họ sẽ nhớ rất lâu và có thể phủ nhận hoàn toàn những điều tốt đẹp mà bạn dành cho họ. Đó chính là đạo lý 100 – 1 = 0.

Người xưa có câu: Cho một bát gạo thành ân nhân, cho một bao gạo thành kẻ thù. Có những người đã quen với việc được cho mà dễ dàng quên ơn huệ. Không phải ai ai cũng hiểu được hai chữ “lương tâm”!

Cho dù bạn sở hữu cả chục cái tốt cái hay nhưng chỉ cần có một cái không tốt, nó sẽ là cái cớ để xóa sạch sẽ mọi cố gắng nỗ lực của bạn. Cho dù bạn dốc hết tâm huyết ra vì người khác, nhưng chỉ một việc không đúng, bạn sẽ trở thành tội đồ trong mắt họ.

Câu chuyện kết luận: Trong cuộc sống này có một số người, bạn giúp họ cả trăm lần họ không có được một lời cảm ơn. Nhưng chỉ một lần không giúp, họ quay ra hận bạn. Bao nhiêu cố gắng nỗ lực bỏ ra vì người khác, thứ bạn nhận lại được không phải là sự chân thành mà chỉ là nỗi cay đắng.

Nhiều người đồng tình câu chuyện trên, và cho rằng ta đã chỉ sai có một lần thôi, công bù tội là được. Hoặc cái sai đó là chẳng may, tại sao mọi người không nhìn thấy cái tốt, cái ta đã làm vì người khác cơ chứ.

Nhưng, nếu bạn thật sự bước trên con đường đạo, một niệm tà thôi, bạn đã trật khỏi cả con đường. Không phải chỉ là một việc tốt, mà bao nhiêu năm tu tập, bao nhiêu công phu thực hành cũng coi như đổ sông đổ bể. Đừng tự cho rằng: ta cần làm thế vì ai đó, ta làm sai nhưng cần được mọi người bỏ qua thông cảm. Nếu mình không thể tự chịu trách nhiệm về những việc mình đã làm, không thể hiểu sự nguy hại của một lần sai nó như thế nào, thì một lần có thể mắc lỗi được tha thứ, không chắc rằng sẽ không có lần thứ hai.

Khi chưa đạt quả thánh thật sự (không phải quả thánh do ta tự nghĩ, hoặc được một số người khác tán dương), thì trên đường tu tập vô cùng nhiều cám dỗ, càng chạm gần tới “báu vật” càng nhiều những khó khăn, càng cần những nỗ lực, càng cần những sự cẩn trọng từng chút một. Nếu không thể nhạy bén soi xét từng suy nghĩ, hành động nơi 6 giác quan của mình, mải mê với những việc bạn cho rằng mình không sai, bỏ qua lời nhắc nhở của người khác, tự cho mình quyền sai giữa hàng ngàn nỗ lực, là bạn tự đào mồ chôn mình rồi.

Sự thật của tự nhiên: 100 – 1 = 0

(Nếu có thể hiểu một bước đi sai như sóng thần, động đất, lũ lụt, cháy rừng… mà còn hơn thế nữa khi một bước đi này liên quan tới sinh tử không chỉ một đời mà ngàn đời hóa kiếp của bạn và người khác)