Chánh niệm đọc

Tâm bạn có đang bị thất niệm, phóng dật, vọng tưởng, hay là hoang vu khi thực hành văn hóa đọc không?

Khi căn tiếp xúc với trần, mắt tiếp xúc với con chữ, ngoài cảm giác hình ảnh, thì phát sinh thêm ý thức. Lúc này ý lại tiếp xúc với pháp, phát sinh ra cảm giác pháp trần và tưởng thức, rồi thêm cái ý thức thứ hai do tưởng thức này sinh ra. Nếu dừng lại ở tưởng thức này, ghi nhận cảm giác pháp trần thì OK là bậc Vô học rồi. Còn bậc hữu học, cái tưởng thức này sẽ kích hoạt kho chứa Vô minh và Minh.

Nhiều bạn nói rằng bạn chánh niệm, răng lưỡi vẫn siết chặt nhưng bản thân lại vẫn để kho chứa vô minh được kích hoạt và cho rằng ta đang chánh tư duy. Như bài trước đã nói, răng lưỡi siết chặt là thói quen, mà phải là nhớ đến, thấy cảm giác răng lưỡi siết chặt thì mới đang ở trên chánh niệm. Khi đang trên chánh niệm, nhớ đến cảm giá trên thân, cái biết là biết trực tiếp, và ngay khi đọc, con chữ nó hiện qua mắt mình nó cũng chỉ có cảm giác hình ảnh, hay thêm có cảm giác pháp trần.

Phần kho chứa Vô minh ở đây là các khái niệm mang tính chất cá nhân, tri thức, kinh nghiệm cá nhân, chủ quan… Phần này khi được kích hoạt sẽ khiến người đọc bấm like, tim, haha, phẫn nộ… dựa trên lộ trình tâm đang sinh khởi trong tâm người đó. Hoặc đưa ra các comment mang tính cá nhân, nói lên các tri thức, kinh nghiệm của mình với các câu chữ ở trên. Thậm chí lại kích hoạt những khái niệm hay chính là sự quan tâm, chú tâm tới những phần không phải là nội dung chính của bài, hay nội dung người viết, chia sẻ cần truyền đạt, rồi đưa ra các ý kiến, đánh giá, chê trách, chỉ trích, lập luận đúng sai trên những phần không thiết yếu đó. Có phải rằng, việc đọc của bạn khiến bạn dính mắc, ràng buộc vào đối tượng được đọc?

Nói vậy, không có nghĩa là không được tác ý, comment. Mà cái cần là như lý tác ý. Hãy khéo léo tự quan sát các comment của mình khi phát ra là nói như phân, nói như hoa, hay nói như mật. Nếu là các bậc thầy, hoặc các thiện bạn hữu đã cùng học một pháp, hãy khéo léo tác ý trên pháp học.

Phần kho chứa Minh ở đây là những hiểu biết đúng như thật về Pháp, về sự sinh diệt hay về sự sanh khởi 5 triển cái, nơi nội ngoại pháp, 5 thủ uẩn, nơi 6 nội ngoại xứ, 7 giác chi…. Để tự mình tuệ tri về 4 thánh đế, thấy rõ lộ trình tâm của mình đang sanh khởi nơi nào trên lộ trình 8 chi phần chánh đạo. Nên thực chất, mình mang tiếng là người đọc sách, báo, fb,…nhưng thực chất là mình đang tự đọc tâm mình. Đối tượng sách, báo, fb bên ngoài là chính là trần để kiểm tra lộ trình tâm, phát hiện các thọ, tâm hành khi lục căn của mình tiếp xúc.

Nếu đến đây, bạn hiểu, thì tôi không cần viết nữa, bạn cũng không cần đọc nữa, và chúng ta yên lặng, định tĩnh, tự an trú nội tâm.

Chia sẻ với đồng đạo

Ngay từ lúc mở mắt, việc với tay cầm lấy điện thoại, nhấn nút mở fb, lướt lướt màn hình, bấm thích hay không bấm,…là những thời gian đó bạn đã mất chánh niệm rồi. Nhiều bạn nói rằng, răng lưỡi vẫn siết chặt, nhưng răng lưỡi vẫn siết đó là thói quen của bất cứ người tu tập đóng mạch nhâm đốc của nhiều pháp môn, mà cái cần nhớ là cảm giác siết chặt nơi răng lưỡi. Nếu nhớ tới cảm giác răng lưỡi siết chặt, và vẫn thực hiện các công việc trên, thì đó là cùng một lúc 2 lộ trình tâm đang diễn ra, đan xen rất nhanh nên cảm giác như ta đang phân thân, hơi thở vẫn nhẹ nhàng vào ra, kết thúc nơi nóc họng, còn tay, chân vẫn cử động như 1 chú robot được lập trình.

Người tu tập, an trú chánh niệm thì đồng thời cũng tự rụng, hay rời bỏ các việc không tên, vì đơn giản khi tâm tham, sân, si không có mặt thì phi như lý tác ý không có mặt, dẫn tới các tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng không có mặt. Người bên ngoài nhìn vào thì cơ bản thấy người ấy ít các hoạt động mang tính xã giao, phù phiếm, thậm chí có tâm lý thích độc cư. Hoặc ở trạng thái cao hơn, khi các phi như lý tác ý diễn ra với cường độ thấp, các ăn, nói, hành động không có xu hướng hướng ra ngoài, ta thấy ở người ấy một cảm giác vắng lặng, định tĩnh, bình an, thư thái.

Để quan sát được người khác thì trước tiên bạn phải quan sát được chính mình. Việc này giống như người họa sỹ thì có thể hiểu được tranh, người nhạc sỹ thì có thể hiểu được nhạc, còn người bình thường thấy tranh chỉ là tổ hợp của màu sắc, giống hay không giống hoặc là cảm giác gì gì đó, hay thấy nhạc cũng tương tự.

Để nhận ra mình, để nhận ra các lộ trình tâm, hay các ý niệm đang xảy ra nơi tâm mình, không chỉ ngày một, ngày hai. Cần quan sát miên mật bất cứ khi nào, đặc biệt là thời gian thiền tọa với không gian yên lặng. Thường thì mỗi chúng ta, vì quá nhiều ý niệm đến và đi hơn cả cái máy tính tốc độ vi xử lý 100i, cộng với bao nhiêu các danh, sắc đang ầm ĩ bên ngoài đập vào các giác quan nên thật khó để nhận ra mình đang nghĩ gì, hoặc nghĩ gì thì cũng k biết mình đang nghĩ tới đâu, chỉ tới khi mọi thứ biến thành hành động, lời nói.. mới nhận ra thì đã quá muộn.

Lần đầu tiên, tôi được dạy để quan sát ý niệm là lấy thước đo của hơi thở, của nhịp tim và các nội xúc trong cơ thể làm thước đo. Bất cứ một ý niệm gì cũng sẽ gây cho chúng ta sự thay đổi của 1 trong 3 thứ trên. Còn nếu nó mạnh thì cả 3 thứ trên cùng xảy ra. Ví dụ khi nóng giận: hơi thở gấp, nhịp tim nhanh, vùng bụng nóng lên đi lên mặt và việc lúc đó là gào thét, đập bàn đập ghế… Nhờ việc quan sát 3 nơi này mà tôi đã giảm được tới 98% nóng giận. Có những khi không hài lòng, sự giận có mặt rồi tan biến nhanh chóng. Ngày mới thực hành và quan sát, có những lần thấy cục lửa đi như thiêu đốt vùng ruột gan, đau nhói nơi ngực, thậm chí chưa kịp giận người khác thì mình đã bệnh vì bị nội hỏa thiêu đốt.

Ví dụ trên là với các hoạt động hằng ngày, còn khi tọa thiền, tôi cũng dùng hơi thở để đo các ý niệm xảy ra, ý đến đi nhanh, hơi thở thô, gấp, ý đến mỏng dần, hơi thở cũng dịu dần. Rồi ý như áng mây trôi, hơi thở cũng nhẹ như sợi tơ sợi chỉ. Thực hành tọa thiền thời gian dài, theo dõi các ý niệm xảy ra nơi ý căn, dần dần sẽ thấy chúng cũng như các sợi tơ, cũng giăng mắc, ngang dọc, đan xen, lẫn lộn. Đôi khi chúng như những vòi con bạch tuộc, tự nơi nào đó, nhoi lên, cấu nhiễm vào vùng thân thể bạn, lúc này hơi thở đã khá nhẹ êm, nhưng cảm giác nơi nội xúc hay cảm giác năng lượng trên thân thay đổi khi có 1 sự cấu nhiễm bạn sẽ thấy rõ và chỉ cần thấy, đưa tay gạt ra như gạt con đỉa bám vào chân là được.

Có những ý niệm được khắc sâu trong quá khứ, nhờ rủ bõ lớp cỏ rác bên trên mà giờ nó mới lại lộ diện. Những ý niệm này mới thực sự đòi hỏi sự kiên trì, sự kiên quyết… của người tu tập. Chúng không chỉ như cái vòi bạch tuộc cấu vào thân bạn, hay con đỉa bám vào chân bạn mà chúng đôi khi như những sợi dây thừng, bó vòng vòng quanh bạn, siết chặt vậy. Chúng đôi khi như những sợi roi da quất vào da thịt bạn. Ai đã trải qua, đã lần mò tới đây, sẽ nói đó là trả nghiệp hay bài tập lớn. Còn mình thì thấy chúng thật là kinh khủng theo nghĩa đen cả trên phương diện danh và sắc. Vì chúng là ý niệm quá sâu, nên gần như mọi cái đổ vào căn của bạn, chúng lập tức trôi vào rãnh đó. Còn các nội xúc thì dâng trào mãnh liệt, hỉ nộ ái ố sầu bi…có mặt đủ cả với mức cao.

Có những lúc, tưởng chừng như tôi đã muốn đầu hàng, bạn có lẽ cũng sẽ vậy, nên ngoài kia, bạn gặp rất nhiều người bỏ tu là thế. Nhưng bạn chỉ cần luôn nhớ, Phật luôn ở bên, Pháp luôn ở bên, Tăng đoàn luôn ở bên bạn. Có thể nhờ sư huynh tỉ hoặc bạn đồng môn chia sẻ để vượt qua các trạng thái khó khăn này. Nhưng quan trọng nhất là bạn, phải như lý tác ý trên lộ trình tâm chánh đạo, không được dễ duôi để rồi trượt sang lộ trình tâm bát tà đạo.

Trải qua các tầng bậc quan sát cá nhân thì thước đo quan sát của bạn cũng dần tự hình thành theo đó là như vậy. Mỗi level tự quan sát được mình, thì bạn cũng có thể quan sát được người khác tương tự. Ở đây, tôi không có ý định nói mình có khả năng quan sát tốt hơn, mà tôi tự nhận biết mình vẫn còn nhiều tầng sâu lắng, định tĩnh hơn nữa còn cần phải thực hành.

Người tự quan sát được mình, thì kì lạ là không có ý niệm quan sát người khác. Đơn giản, chỉ khi bạn không biết thế giới bên trong bạn tuyệt diệu như thế nào, bạn mới đi tìm thế giới bên ngoài, hay bạn không biết mình đang sở hữu viên kim cương ngàn tỉ thì bạn mới có xu hướng kiếm tiền. Người tự quan sát, họ quan sát mình còn không hết ngày, đâu là lộ trình tâm chánh đạo, đâu là lộ trình tâm tà đạo, lộ trình tà này tới đoạn nào rồi: mới kích hoạt kho chứa, hay đã tới tâm hành tham sân si, hay đã tới tà tinh tấn, thậm chí nhiều khi tới phi như lý tác ý, và không ít tới tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng. Bất kể tà nào xảy ra mà nhận ra được, dừng lại được cũng là quý rồi. Chứ đừng quá mong cầu là nó không thể xảy ra, vì khi đó phải là nhân vô minh không còn, kho chứa vô minh được xóa sạch.

Còn sống và tham gia công việc ngoài đời, có gia đình, hãy lên bảng thời gian biểu cụ thể: giờ này cho công việc, giờ này cho gia đình, giờ này cho đọc sách, giờ này cho thiền định… giờ nào việc nấy. Giờ tu tập, thiền định càng dài, thì thời quan sát để chánh niệm, để khơi lên lộ trình tâm bát chánh đạo càng dài. Còn thời gian làm việc, gia đình, lộ trình tâm bát tà đạo xảy ra vô cùng nhanh nên chỉ có thể niệm thân để tránh các ý niệm lôi kéo, tránh các nội xúc tiêu cực có thể xảy đến và cũng là cách để quan sát các ý niệm đến đi với cường độ cao hơn khi tĩnh tọa.

Tóm lại: hãy tập quan sát chính mình và chỉ quan sát mình; lên thời gian biểu để tu tập rõ ràng nếu bạn đang là cư sĩ.

6 cổng

Người gác cổng được giao gác một lúc 6 cổng thành, ở 6 hướng khác nhau. Nếu chủ quan, bỏ 6 cổng đi chơi thì cẩn thận bị chiếm giữ thành. Nếu lơ là, vừa trông vừa chơi, không chú tâm là bị địch tung khói xám, thuốc mê rồi rơi vào hôn trầm. Nếu quá chú tâm tới một cổng mà quên 5 cổng còn lại, nếu có việc gì đột xuất, không kịp chạy tới, hoặc giật mình mà trượt chân xuống vực. Như một người thợ lành nghề thiện xảo, người gác cổng liên tục đảo quanh các cổng, nhẹ nhàng, quan sát tỉ mỉ, chủ động. Rồi như một vị thần, đứng cao hơn hẳn cả thành trì của mình, lia mắt quan sát nhanh một lúc 6 cổng. Rồi như một người đã nắm chắc phần thắng trong tay, các tên trộm, cướp đã không còn nhòm ngó, các thiện ác đã vắng bóng, các cổng thành chủ động trong sự kiểm soát mà k cần nắm giữ, chúng vận hành tự nhiên như nhiên tạo nên sự an ổn, định tĩnh nơi vùng đất tự do này.

Bạn có sấp mặt sau khi thiền?

Mười mấy năm học thiền, câu chuyện mà tôi chứng kiến cũng như được nghe cảnh báo nhiều nhất là: trong thiền thì thế thôi, ra ngoài đời lại sấp mặt. Bao nhiêu người cũng chỉ cố gắng dùng thiền để định tâm lại, để nạp thêm năng lượng, hay để trùng xuống những căng thẳng trong cuộc sống. Giờ, có hiểu biết đúng đắn, thì những trạng thái có được ở các thời tọa thiền đó là Tâm giải thoát, một số người có thể thực hành ở các việc hành thiền động và cũng có được Tâm giải thoát.

Tâm giải thoát là một trạng thái ở đó chỉ có cái #biết_trực_tiếp giác quan và không có cái #biết_ý_thức khởi lên (khi các giác quan (căn) tiếp xúc với thế giới (trần) thì nảy sinh cả 2 cái biết: trực tiếp và ý thức). Chính ở việc dừng lại chỉ có tâm biết trực tiếp mà ở đó không có gì dẫn truyền lên tế bào thần kinh não để nó phải phân tích xử lý, tư duy… nên có một trạng thái chỉ biết ta và ta như thế xảy ra. Tại đó như không có gì tồn tại, như không có không gian, như không có thời gian nữa. Chính vì thế mà nhiều người cho rằng các phương pháp tu hành là như nhau vì chúng đều có thể có được trạng thái tâm cuối cùng là như vậy.

Nhưng hãy so sánh kết quả của các hành động sau:- ngộ công án thiền (thiền tông)

– nhất niệm, nhất tâm (tịnh độ tông)

– chú tâm chặt chẽ nơi hơi thở (khí công)

– chú tâm nơi thiên nhãn hay đan điền (đạo gia)

– ngay khi một người đã quá mệt mỏi về tâm và ngay giây phút buông xuống hết mọi thứ

– ngay khi một vận động viên vừa chạy xong 1 quãng đường dài

– ngay khi người đàn bà vừa đẻ xong

– ngay tại khoẳng khắc lên đỉnh của cuộc giao hợp

– ngay tại giây phút ngồi trên ban công thả hồn xa tít tắp của người nghệ sĩ

– thời khắc hai người yêu nhau xa nhau lâu ngày gặp lại….

Chúng đều giống nhau là cái biết ý thức không còn tồn tại nơi khoảng khắc đó. Và rất tiếc nó chỉ chợt ngộ, hay xẹt qua mà thôi. Nhưng con đường thật của Phật ngoài giác ngộ về #Tâm_giải_thoát còn là #Tuệ_giải_thoát. Tuệ giải thoát là hiểu biết thế giới này là cảm thọ, chúng vô thường, vô chủ vô sở hữu, chúng sinh lên rồi diệt đi, không mời mà đến, không đuổi mà đi, chúng không thể nắm bắt càng không thể nắm giữ mà giúp cho chúng ta không bị dính mắc, ràng buộc, hay chấp thủ chúng là ta, chúng là của ta.

Tuệ giải thoát không phải là một cái gì ghê gớm như truyền thuyết: phải khai mở thiên nhãn, thiên căn, phải khai mở hạch tùng, phải vào các tầng thiền bí mật, sâu xa… Vì cho rằng có Tuệ để hiểu biết về tất tần tật thế giới ngoài kia, bất chấp không gian và thời gian. Tuệ giải thoát đơn giản chỉ là những điều như đã đề cập ở trên: nhận biết thế giới này là cảm thọ….để rồi không bị dính mắc, ràng buộc, chấp thủ.

Một số bậc hữu học hiểu được tuệ giải thoát như vậy nhưng lại thấy nó quá đơn giản mà tại sao mình vẫn chưa giải thoát với cuộc sống của mình: vẫn tham, vẫn sân, vẫn si… Đơn giản vì kho chứa vô minh, vì lộ trình tâm được thiết kế từ vô thủy vô chung đã ăn quá sâu vào các tế bào thần kinh não của mỗi người. Cái hệ thống kênh mương vô minh này vững chãi tới nỗi chỉ cần 1 giọt nước là nó chảy được rồi. Việc thực hành tu tập Tứ niệm xứ theo lộ trình tâm Bát chánh đạo là để thiết kế lên hệ thống Minh mới, để dẫn nhập các ý, sự việc, hiện tượng (pháp) nơi đời sống này chảy theo hệ thống kênh mương mới này. Mới đầu nó còn yếu, còn nông, thì cái gì khởi lên trong đời sống 10 phần thì 9,8 phần vẫn chảy qua hệ thống Vô minh cũ. Nhưng mỗi ngày một chút, một chút, sẽ còn lại 7,6 phần…rồi 3,2 phần…

Việc tu tập Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát cần được bổ trợ cho nhau. Cái này lên thì cái kia lên. Tức là thời gian xảy ra Tâm giải thoát càng dài thì tại đó, chúng ta dẫn nhập các pháp sang hệ thống kênh mương Minh mới này càng được nhiều và dễ dàng hơn. Kênh mương mới càng sâu, bền tức là ta càng ít dính mắc, ràng buộc các pháp thì lại có thời gian Tâm giải thoát được dài hơn. Và cứ thế, cứ thế, như một vòng tròn xoáy chôn ốc với các vòng thu nhỏ dần lại. Tại thời điểm tại đỉnh, khi Minh đã xóa Vô minh, một sự đột chuyển nơi tâm thức xảy ra, và được nói người ấy đã thấy rõ: việc cần làm đã làm, phạm hành đã thành… Việc kênh mương này là của mỗi người, dẫn đi đâu cũng là của mỗi người, mà mỗi người đều cần hiểu tự mình nương tựa mình, nương tựa nơi chánh pháp, không nương tựa ai khác…

Đã là vị hữu học thì hãy từng bước, từng bước, từng phút từng giây, thực hành chánh niệm, việc gì cần làm thì làm, không cần thiết thì bỏ. Chỉ cần ngồi lắng nghe từng hạt mưa rơi thôi. Thời gian đầu thấy cả đám ào ào, thời gian sau thấy từng đợt rơi xuống rồi mất. Rồi dần dần thấy từng hạt, từng hạt rơi xuống, mỗi hạt đều khác nhau, tiếng va với đất cũng khác nhau. Đời sống này cũng vậy, đầu tiên là cả đám cứ dồn vào mình mà không biết xử lý sao. Sau thì thấy từng việc, từng việc rõ ràng. Dần dần, thấy rõ, 1 ý niệm của mình thôi cũng là #Phi_như_lý_tác_ý hay là #Như_lý_tác_ý đó là lúc cái thấy, cái biết được Liễu tri để phát sinh Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là như vậy. …

“Trú như vậy nhiệt tâm

Đêm ngày không mệt mỏi

Xứng gọi Nhất dạ hiền

Bậc an tịnh, trầm lặng”.

– Kinh nhất dạ hiền giả – Trung bộ Kinh (Nikaya)

Bạn có muốn mình mãi là kẻ phàm phu?

Vì tự ngã, không ai muốn coi hay bị coi mình là kẻ phàm phu. Nhưng Kinh Pháp môn Căn bản (Trung bộ Kinh – Nikaya) chỉ rõ:

– Kẻ phàm phu: ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh… nên #tưởng_tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại nên nghĩ đến đối chiếu với địa địa, nghĩ đến như là địa đại, người ấy nghĩ: địa đại là của ta – nên dục hỷ địa địa đại. Vì sao vậy? Vì người ấy #không_liễu_tri địa đại.

– Người hữu học: tâm chưa thành tựu, đang sống cầu sự vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì #thắng_tri nên không nghĩ đến địa đại, không đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến như là địa đại, không nghĩ: địa đại là của ta – không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì người ấy #có_thể_liễu_tri địa đại.

– Bậc Alahan: các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa địa đại là địa đại. Vì thắng tri nên không nghĩ đến địa đại, không đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến như là địa đại, không nghĩ: địa đại này là của ta – không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì người ấy #đã_liễu_tri địa đại.

Ở đây, chúng ta thấy sự khác nhau giữa kẻ phàm phu, người hữu học, bậc Alahan là ở việc #tưởng_tri, #liễu_tri. Được biết pháp của Đức Thế Tôn, được học, được thực hành để mà thay đổi cái thấy cái biết trong mỗi chúng ta từ tưởng tri sang liễu tri (cái biết như thật, đầy đủ).

Trong bản kinh Kàlaka (Tăng chi bộ Kinh – Nikaya) cũng nói: Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy nhưng

– không có tưởng tượng điều được thấy

– không có tưởng tượng những cái gì không được thấy

– không có tưởng tượng những gì cần phải thấy

– không có tưởng tượng đối với người thấy

Bạn có thuộc nhóm người đã không nghe pháp các bậc thánh, không thực hành pháp các bậc thánh, lại còn nghe 1 ít, hành 1 ít rồi tưởng tri ra pháp, hay tự thực hành và tưởng tượng ra rồi cho rằng nó là đúng để rồi “dục hỉ niết bàn”…

Mọi thứ cần được tuệ tri, liễu tri hay thân chứng là tự mình thấy đúng đắn và phân biệt rõ hay còn gọi là #trạch_pháp giác chi đâu là Minh đâu là Vô minh. Trong chánh tri kiến là hiểu biết đúng như thật: đây là sự thật, đây không p là sự thật. Chứ không phải chúng được ta logic hoặc ta thấy một ảo giác gì đó trong thời thiền để rồi thấy tốt, thấy đúng, cho nó là đúng, hoặc phân biệt mọi thứ đúng sai theo tưởng tượng, logic vô minh.

“Những gì được thấy, nghe.

Được cảm nhận ( rồi ) chấp trước.

Được nghĩ là chân thực.

Giữa những người thấy vậy.

Ta không phải như vậy.

Những điều chúng tuyên bố.

Dầu là thật hay láo.

Ta không xem tối hậu.

Ta trong thời đã qua.

Thấy được mũi tên này.

Loài người bị câu móc.

Ta thấy và Ta biết.

Các Đức Phật Như Lai.

Không tham đắm như vậy” – Kinh Kàlaka

Vậy thì có nên chăng đã tu học, hãy văn – tư – tu (có học hành, có tư duy, có thực hành để thân chứng) đầy đủ và đúng đắn. Bộ bản kinh MP3, trang bị cho các bậc hữu học thêm Văn tuệ, ngoài ra có các bài hướng dẫn thực hành tứ niệm xứ với các bước đi đúng đắn, rõ ràng giúp người thực hành có thể tự mình thân chứng, tự mình khẳng định, “đến để mà thấy” chứ không còn là “đến để mà tin”.

“Vô minh ta đã nhận mặt ngươi rồi. Kể từ nay ngươi không thể làm nhà cho Như Lai được nữa, … Cây đòn dông đã bị đạp gãy. Thấy Như Lai nói như vậy thì Vô Minh bỏ đi”

Hãy khéo léo nhận ra.

Hãy thành thật tự trả lời, có thể trong các tầng thiền định sâu xa, nơi vắng lặng cả sắc và danh, hãy thành thật tự trả lời:

Mục đích sâu thẳm của việc ta Tu để làm gì?

– tu để mọi người biết ta đang tu, theo một style của tky 21. để có thể chứng tỏ ta đang khác người, ta không bon chen cơm áo gạo tiền như bao người ngoài kia.

– tu để tới cảnh giới niết bàn hay có thể định tâm, an lành. có điều gì đó nhiệm màu nơi các giác quan và có thể phô bày như một trò phủ thủy, ảo thuật.

– tu để đạt trí tuệ, chánh tri kiến hay hiểu biết hết thảy. để có thể lý giải, biện luận với các tình huống xảy ra với mình, với người. để có thể giác ngộ hay chỉ dẫn cho người khác.

– tu để hết khổ, để không còn phiền não, đau đớn hay còn các loại khổ với cảnh, với đời, với người. để thoát bỏ được tham, sân, si đang chế ngự nơi tâm.

– tu để có thể nhập các đạo quả, là có thể giải thoát khỏi kiếp sống luân hồi sinh tử, là chấm dứt nghiệp tái sinh.

….

Hãy khéo léo soi xét, hãy thành thật trả lời.

Để rồi nhận ra:

Làm gì còn ta và đời

Làm gì còn ta và người

Làm gì còn ta và pháp

Làm gì còn ta mà có sống hay có chết

Không phải mặc kệ, không phải buông lơi, mặt trời vẫn đó đâu có mọc hay lặn. Có khổ có lạc, có sinh có diệt, có tu hay không tu cũng chỉ là tự ta chế định và mặc áo lên cho mình.

P/s: 1: không cần tu, sống đời vui vẻ là được. 2: tớ đang tu, và cách tu của tớ là đúng đây, hãy tu như tớ, tu như tớ để có a,b,c,…x,y,z. Thì đều là bạn đang cho mình là đúng là đủ rồi.

Định

Để không cho cái biết ý thức cùng lộ trình tâm tà khởi lên, thì lộ trình tâm cần dừng lại ở cái biết trực giác. Đằng sau nó là một chuỗi các kiến thức về vật lý học lượng tử, về năng lượng, về các bước sóng, về sự tương tác thông tin. Con người cứ tìm kiếm, cố gắng tìm kiếm để có thể tự mình lý giải được, để tự mình có thể thực chứng được. Nhưng trong môi trường “chân không”, có những thứ không thể truyền đi tiếp, những cái hữu vi được dừng lại chặn đứng, nhường chỗ cho cái vô vi. Lậu hoặc chẳng thể nảy sinh, chẳng thể bám víu. Định lực cứ thế từ từ mà tăng trưởng, để rồi cái gì cần đến sẽ đến. Chẳng cần phải cố gắng nhiều, chẳng cần phải sục sôi nhiều. Thế gian cứ giãy đành đạch trong cái đầm sình lầy của các lậu hoặc, càng giãy càng lún sâu, càng giãy càng chìm xuống.

Bất luận là việc gì trong thế gian cũng thế. Tâm không thể hướng nội, mọi thứ không thể tự tròn đầy.

P/s: người làm việc thông minh là không làm gì cả, hoặc chăm chỉ như chú kiến, lặng lẽ cần mẫn từng chút một

Bạn quan tâm tới điều gì khi học pháp của Phật?

Có rất nhiều mục đích khi học pháp của Phật. Tạm liệt kê ra đây một số ví dụ:

– Học pháp của Phật để được bình an. Nhiều người đi học học pháp của Phật là mong an lành. Thậm chí một số bạn của tôi nói, nghe Kinh, hay nghe giảng, hay đi Chùa mồng 1, ngày rằm thôi cũng cảm thấy được an tâm, nhẹ nhàng trong tâm. Những giây phút nghe Kinh, nghe giảng, tới Chùa, ngoài thay đổi sự chú tâm ở việc đời lên pháp Phật, còn có niềm tin rằng, tâm mình được nương nhờ nơi cửa Phật, mà vì thế như một liều thuốc giảm đau, khiến cho tâm bạn được nhẹ nhàng, thư thái. Nhưng nó không giải quyết được căn nguyên, nó không hiểu được sự thật, và vì thế, các phiền não, đau khổ, buồn vui, nóng giận… vẫn cứ lặp lại, đáng buồn là lặp lại với điều kiện và hoàn cảnh tương tự, rồi không hiểu tại sao lại như vậy và phiền não hai lần phiền não. Pháp của Phật giúp mỗi người học Phật hiểu được và khi thực hành thì thân chứng được sự thật thế giới này là cảm thọ, nó sinh lên rồi diệt ngay nên vô thường, vô chủ, vô sở hữu.

– Học pháp của Phật để có được thần thông. Những thần thông như đoán biết vận mệnh tương lai, biết phong thủy tốt xấu, biết gia cảnh gia đạo, nghe được từ rất xa, nhìn được bằng con mắt thứ ba, đi mây về gió … Các khả năng đó có rất nhiều ở các pháp môn khác. Trì chú mật tông, rơi vào tầng thiền sâu, ý thức mất, các pháp nằm trong kho chứa câu nhiễm với thế giới bên ngoài là có khả năng xảy ra. Nhưng những cái này, đâu phải pháp của Phật. Đến Phật dù chứng phi tưởng, phi phi tưởng xứ, vẫn chưa thấy mình được giải thoát, chưa hết được phiền não, khổ đau và Ngài vẫn quyết tâm đi tìm ra sự thật. 49 ngày ngồi dưới gốc cây bồ đề, ngài vào được các tầng định: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Nên nhiều người học pháp Phật nguyên thủy, lại tìm bằng được cách để vào được các tầng thiền, và tin rằng, chỉ cần vào các tầng thiền là ta có thể chứng được cái nọ, chứng được cái kia, đạt được giác ngộ nọ, giác ngộ kia. Và họ băn khoăn mình đang ở tầng thiền nào, à, tứ thiền rồi, đạt rồi, sắp chứng rồi… Rồi hôm sau, họ lại băn khoăn về việc làm sao để đạt được tầng thiền như hôm qua. Và chính cái sự băn khoăn đó, chẳng thể giúp các thời thiền được an định, an trú lâu dài trong chánh định. Các tầng thiền đâu phải là nhân để chứng cái nọ, chứng cái kia. Các tầng thiền có được là do quả mà tại đó có chú tâm hay không chú tâm, có ly dục hay chưa, các các căn khởi lên có để nó có cơ hội tiếp xúc với trần hay không. Đặc biệt là Ý căn và Pháp trần, là hai cái vô cùng tinh tế, dễ xúc, mà khó thấy… Và rồi, tứ thiền thì sao, thoát thời tọa thiền, lại cho rằng ta vào được tứ thiền, để rồi ta hơn, người kém, để rồi tự ngã, ta sắp chứng rồi, đời sắp ngon rồi. Ra tới ngã tư, gặp thằng vượt đèn đỏ, tí đâm phải mình, vẫn rồ lên, hay sợ hãi mà quát nạt như thường. Cái thần thông duy nhất của Phật đó là thấy biết thế giới này là cảm thọ, để rồi có được Lậu tận thông, không bị dính mắc vào thế giới sắc dục, không còn tham ái.

– Học pháp của Phật để có được tuệ giác. Tuệ giác đó như biết hết chuyện thiên hạ, biết hết chuyện các bộ môn khoa học, nói chuyện với thế giới siêu hình, thế giới tâm linh chăng… Biết chuyện thiên hạ là việc của phóng viên. Biết chuyện khoa học là của các nhà nghiên cứu. Nói chuyện với thế giới siêu hình là của các nhà ngoại cảm. Biết chuyện thế giới, khoa học để rồi đau khổ, phiền não về chính trị, xã hội, văn hóa. Cho rằng những con người kia ngu dốt đang phá hủy thế giới, nhân loại. Ai sẽ phân định: máy tính, hay smartphone đến giờ này thực chất là giúp ích hay không giúp ích cho loài người? Biết chuyện quá khứ tương lai, biết chuyện thế giới siêu hình để rồi lo lắng, hay khiến người khác lo lắng, phiền não về một sự việc đã qua hay chưa tới thì cũng có ích gì hơn? Phật không có dạy để có được tuệ giác như vậy. Pháp của Phật là Tuệ giải thoát. Nhưng một số người lại mong muốn có được Tuệ giải thoát là một cái gì đó rất cao siêu, là sự chứng ngộ rất vi diệu. Để mà mong cầu, để mà hý luận với người khác. Nhưng sự thực, tuệ giải thoát rất đơn giản đó chính là hiểu biết về sự thật thế giới này là cảm thọ, có vị ngọt, có sự nguy hiểm của cảm thọ để mà xuất ly; hiểu biết như thật về Lý duyên khởi – 12 nhân duyên của thế gian để dừng lại các vô minh, duyên hành; hiểu biết về sự vô thường, vô chủ, vô sở hữu để mà không còn bị dính mắc, ràng buộc, hay chính là giải thoát khỏi các hoàn cảnh tới mình, các vấn đề đang xảy ra với mình và với nhân loại.

Bạn đi học với mục đích gì? Còn tôi, đi học để đạt được cả ba mục đích trên, hehe.

Hư không

Đã lâu rồi em không làm thơ
Không mộng mơ và vu vơ trước gió
Không mỉm cười trước từng ngọn cỏ
Không giật mình trước nhịp bước thời gian

Đã lâu rồi em không lan man
Kể về anh về em về câu chuyện xưa cũ
Kể về chuyện tình yêu ngàn năm bất hủ
Kể về những đợi chờ xuyên qua tháng năm

Đã lâu rồi em không băn khoăn
Anh hay là em người nào dừng bước
Anh hay là em người nào quên hẹn ước
Anh hay là em để trôi kí ức vô tình

Đã lâu rồi em lặng lẽ một mình
Bên trang kinh đọc những lời Phật dậy
Thế giới là cảm thọ vạn vật là vô thường
Cảm xúc nhớ thương cũng chỉ là tham ái

Gió đang thổi từng cơn tê tái
Nhưng cũng chỉ khẽ chạm…đến rồi đi
Cứ lắng sâu những ác pháp sẽ viễn ly
Chỉ còn là vắng lặng…chỉ còn là hư không

P/s: Thế gian cho rằng khổ là do cảnh, do không có tiền, không được yêu. Nhưng sự thực là gì?

Ghi nhớ

Có những giấc mơ đẹp, khiến khi tỉnh dậy tiếc nuối. Có những giấc mơ xấu, khiến khi tỉnh dậy sợ hãi. Nhưng giấc mơ tuyệt diệu nhất đó là trong mơ vẫn đi chia sẻ về Pháp của Đức Thế Tôn với những con người đặc biệt, những người là bạn, là thầy, thậm chí ẩn cư nơi núi rừng, thần thông biến hóa nhưng chưa tiếp cận và có cái nhìn đúng về Pháp của Phật thật. 😍😍😍

Những điều cần ghi nhớ:
– thế giới này là các thông tin cảm giác (cảm thọ) khi các giác quan (căn) tiếp xúc với (trần) gồm thế giới bên ngoài (sắc) và cả thông tin lưu trữ về thế giới (danh)

– vì chúng là thông tin cảm giác, không mời mà đến, không đuổi mà đi chỉ xuất hiện khi (căn) và (trần) tiếp xúc nhau nên chúng sinh lên rồi diệt ngay (vô thường), chúng không bị chi phối, không thuộc về ai, về đâu cả (vô chủ, vô sở hữu)

– không phải là ta Biết về vật hay về tâm (thấy bông hoa biết là bông hoa, hay ta thích là biết là thích…) – đó là cái Biết mà bậc Thánh hay phàm phu đều biết, mà là Tuệ Tri về cái thấy của thế giới là cảm thọ, Tuệ Tri về các cảm xúc trong tâm ta là các Tâm hành… Tuệ Tri theo lý duyên khởi. Liễu Tri theo Tứ thánh đế.

– 4 tầng thiền chỉ có sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền được Đức Phật nhắc đi nhắc lại trong Kinh điển và ngài mô tả rõ ràng. Sơ thiền là vẫn còn có Tầm có Tứ. Còn từ Nhị thiền là không Tầm không Tứ. Tất cả các khái niệm Thiền khác đều do đời sau thêm vào và chỉ dừng ở mức Có Tầm Có Tứ (tìm kiếm một đối tượng nào đó để chú tâm vào).

– có 2 lộ trình tâm rõ rệt như con đường 2 ngả: Lộ trình tâm thế gian là ngay khi (căn) tiếp xúc (trần) là nảy sinh chuỗi đối chiếu, so sánh, tổng hợp…theo tri trức, kinh nghiệm cá nhân để rồi tư duy, phán đoán đưa ra kết luận dựa trên cá nhân gồm Thích thì nhận vào (tham), Ghét thì đuổi ra (sân), và không thích không ghét thì tìm kiếm cái khác thay thế (si). Lộ trình tâm bậc thánh là lộ trình tâm Bát chánh đạo là ngay khi (căn) tiếp xúc (trần) phát sinh (cảm thọ) và vì hiểu đây là (cảm thọ) nên chỉ dừng ở tâm biết trực tiếp (tưởng) mà không nảy sinh bất cứ sự so sánh, đối chiếu, diễn dịch, quy nạp…nào.

– lộ trình tâm bậc thánh tóm tắt: căn 》《trần > thọ, tưởng > chánh niệm > chánh tinh tấn > chánh định (tại đây có tỉnh giác và Vô ngã) > chánh tư duy > chánh tri kiến (có Vô tướng) > (như lý tác ý) > chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Lộ trình tâm này không có (tham), (sân), (si) nên vắng mặt phiền não, khổ đau.

Pháp của Đức Như Lai thiết thực hiện tại là như vậy.