Đang ở chỗ nào ở yên chỗ đấy

Yêu tổ quốc, yêu đồng bào

Đang ở chỗ nào ở yên chỗ đấy

(bài này không viết về bệnh dịch, mượn cảnh để mọi người dễ thấy)

Mọi người hẳn ai cũng hình dung sự loạn cào cào của mấy ngày nay. Người từ ngoài nước đổ về trong nước tránh dịch. Người trong nước thì lo ngay ngáy, bảo người nước ngoài ở yên đó là ok, đi lại còn nhiễm bệnh hơn. Hoặc thậm chí lên án những kẻ lén lút đi lại trong nước gieo rắc mầm bệnh như BN34. Mọi sự xáo trộn, không chính thống, không đúng quy luật sẽ gây ra những hậu quả mà ai cũng đã thấy.

Lại nói về thời xưa, Khổng Tử có đưa ra cái thuyết Chính Danh: Vua phải có dáng vẻ của vua, thần phải có dáng vẻ của thần, cha phải có dáng vẻ của cha, con phải có dáng vẻ của con, người lãnh đạo phải có dáng vẻ của người lãnh đạo, cấp dưới phải có dáng vẻ của cấp dưới. Có như vậy gia đình mới hòa mục, quốc gia mới thái bình. Vì vậy nếu trong một xã hội mà ai cũng làm đúng với cái danh của mình (tức Chính danh) thì xã hội làm sao có loạn lạc, làm sao có nhũng nhiễu. Cái thuyết này nghe thì mới nghe thì thấy nói về vị trí của mỗi người trong xã hội, nhưng chung quy vẫn là đúng vị trí, đúng quy luật.

Gần hơn nữa là sức khỏe của những người bị mắc Covid 19. Chưa có vac-xin, chưa có thuốc chữa. Tất cả chỉ trông chờ vào hệ miễn dịch. Bạn hoảng loạn hay lo lắng không thể khỏi. Bạn chạy nhảy khắp nơi không thể khỏi. Bạn tìm thuốc nọ thuốc kia không thể vì cơ bản là không có. Hay nói gọn là không có yếu tố bên ngoài nào làm thay đổi việc bạn khỏi bệnh lúc này, tất cả chỉ có bạn, duy nhất là bạn, và cách duy nhất là bạn nghỉ ngơi, để cơ thể tự miễn dịch. Bạn đơn giản chỉ cần là bạn.

Giờ mới là cái tôi sẽ nói về những cái bạn đã từng cho là không đúng, không phải và chỉ ra những cái bạn đã thực hành chưa tới.

Hầu hết chúng ta muốn khỏe mạnh, nên cái mà chúng ta thường làm đó là bổ sung các thuốc bổ từ bên ngoài vào, có những người bị bệnh thì hoảng loạn lên tìm các thuốc chữa. Bổ sung không sai, chữa bệnh không sai. Sai ở đây là cách bạn tìm đến nó và sử dụng nó. Bạn phó thác cho các loại thuốc bổ, bạn sợ hãi khi không có thuốc men. Nhiều phương pháp chữa bệnh tự nhiên như luyện tập Khí công, Thiền, hay để cơ thể nghỉ ngơi thì bạn cho rằng không đúng, không tin, làm sao có thể. Ví dụ như Thiền, làm sao ngồi im mà có thể chữa bệnh? Nhưng như trên thôi, thiền chính là việc ngồi im, để cho các nơi trên cơ thể bạn chỗ nào ở đúng chỗ đó. Tâm trí bạn không bị loạn lên cho rằng chỗ này tốt hơn chỗ kia, dẫn tới chạy tùm lum từ Âu sang Á, mà k biết rằng, bệnh ở nơi đường đi hay chính là ở nơi hành vi của bạn đó.

(Tôi không có ý phủ nhận Tây y, mà Tây y là biện pháp cuối cùng, giống như việc hiện giờ người từ CA đổ về thì chính phủ bắt buộc phải cho họ vào các khu cách ly).

Không bàn sâu hơn về Thiền, vì một số người sẽ nói rằng Thiền khó lắm, và cũng nói nó quá lâu để chữa bệnh. Mình sẽ nói sang cách tập luyện các môn Thể dục, thể thao phổ biến hiện nay: đi bộ, đi xe đạp, chạy,… Những môn này đều nâng cao sức khỏe, và mọi người đều thấy nó đơn giản, dễ thực hành, và cho rằng mình đã thực hành đúng. Nhưng cơ bản 99% thực hành không đúng hoặc có thể nói chưa tới. Ai cũng chỉ chăm chăm tới số lượng, được bao lâu, bao xa. Đã ai đi bộ mà biết mình đang đi bộ? Đã ai đang chạy mà biết mình đang chạy? Bạn sẽ cho rằng đây là hai câu hỏi ngớ ngẩn. Nhưng thật sự đó. Khi bạn đang đi bộ và đang chạy, thì tâm trí bạn đang để ở đâu? Bạn nghĩ tới công việc, bạn nghĩ tới gia đình, bạn nghĩ tới dịch bệnh, bạn nghĩ tới buổi cãi lộn ngày hôm qua, hay bạn mơ tới việc đi gặp người yêu tối nay… Tâm trí của bạn nó không đang ở chỗ nó cần ở: đó là ở nơi bước chân của bạn. Và bạn biết rồi đấy, cái gì không ở đúng vị trí thì đều sẽ để lại hậu quả, không có tác dụng hay phản tác dụng.

Giờ phần này sẽ sâu hơn, và chúng sẽ thực sự khó hiểu với bạn, nhưng tôi sẽ cố gắng dùng ngôn từ dễ hiểu nhất để diễn đạt.

Những thông tin ngoài kia, về cơ bản chúng là thông tin và chúng tồn tại bên ngoài bạn. Nhưng vì bạn có các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, da nên bạn có thể tiếp nhận các thông tin đó. Việc bạn tiếp nhận nó, về lý thuyết sinh học, đó là do các tế bào thần kinh ở mắt, tai, mũi, lưỡi, da đang ghi nhận các thông tin đó. Đúng ra, ngay từ đầu bạn không nên tiếp nhận chúng, vì chúng là chúng, bạn là bạn. Nhưng vì bạn là một sinh vật bạn không thể không có sự kết nối với thế giới. Và khi bạn tiếp nhận, đáng ra bạn nên chỉ để các thông tin được tiếp nhận này ở nơi các tế bào thần kinh giác quan để ghi nhận nó, để biết vậy. Nhưng vì nhiều lý do như sinh tồn, quan điểm cá nhân, ý thức xã hội… những khuân mẫu chủ quan do bạn đặt ra, nên bạn tiếp tục tiếp nhận chúng theo cách bạn đã lập trình: thế này là đúng, thế này là sai, thế này là tốt, thế này là xấu, thế này xanh, thế này là đỏ, thế này là vuông, thế này là tròn, là được, là không được… Và bạn thấy không. Nếu cái gì ở chỗ nào, ở nguyên chỗ đó, các thông tin được ghi nhận nơi tế bào thần kinh giác quan không bị đưa đi khắp nơi phân tích, xử lý, tổng hợp, so sánh… thì bạn đâu có đau đầu, điên loạn, sợ hãi hay thậm chí cả vui thích, sung sướng… lên vì chúng.

Vậy đó, chỉ đơn giản ở chỗ: ngay bây giờ và tại đây, cái gì đang ở đâu ở đó, ai đang ở yên chỗ nào thì ở yên chỗ đó.

14.2

14.2 khi mà mình vào núi học đạo, thì cái mạng truyền thông vẫn nhận được các thông tin kiểu như: chào tình yêu của anh, em có còn yêu anh, em có từng yêu anh, sao em k thừa nhận yêu anh mà p dối lòng… Đúng là…

Khi mà bạn biết thế giới này là cảm thọ, chỉ toàn là cảm giác của 6 giác quan: cảm giác hình ảnh, cảm giác âm thanh, cảm giác mùi, cảm giác vị, cảm giác xúc chạm, cảm giác pháp trần (cảm giác pháp trần là cảm giác của ý nghĩ khi tiếp xúc với gì lưu trong bộ nhớ) thì bạn sẽ bật cười mà tự thừa nhận rằng: hóa ra bấy lâu mình chỉ đang chơi trò chơi của các cảm giác, hóa ra mọi thứ bấy lâu bạn cho đó là ta, của ta…thì nó cũng vụt tan biến như bạn nhấn nút off cái Tivi của mình. Chỉ là nếu bạn k thừa nhận điều đó, tiếp tục bật nút chuyển kênh và chìm đắm trong các cảm giác, thì chỉ có bạn tự vui tự buồn, tự khóc tự cười, tự hả hê thỏa mãn hay chán ghét ruồng bỏ với nó mà thôi.

Làm thế nào có thể nói cho mấy bạn hiểu, chừng nào có vô minh, chừng đó còn trở lui: yêu hết cô này cô kia, tự sung sướng, tự đau khổ, tự than vãn … cơ chứ. Sao có thể xem đi xem lại những bộ phim có mở đầu và kết thúc giống nhau mà k chán nhỉ?

Điều gì làm bạn trưởng thành?

Chừng nào bạn chỉ thấy các bộ môn tâm linh, hay cả thiền đem lại cho bạn sức khỏe, bình an, may mắn, hay những thuận lợi khó giải thích trong cuộc sống, chừng đó bạn còn mê muội trong đó, chừng đó cái tâm Tham của bạn vẫn tồn tại thậm chí nhiều hơn trước. (dù bạn nói bạn không tham, thậm chí chẳng có gì khiến bạn cần phải tham, đó là bạn nói). Bạn đã trở thành kẻ lệ thuộc, dứt tâm linh và dứt thiền khiến bạn hoang mang và sợ hãi, bạn phó thác mình, cuộc sống mình cho một thứ bạn cho đó là tối cao, tối thượng, ưu việt… Không phải pháp môn đó vi diệu mà bạn cho nó là vi diệu và bạn tham đắm sự vi diệu đó. Bạn mãi mãi là đứa trẻ ẵm ngửa bú sữa mẹ tâm linh mà thôi.

Tâm linh (hay cả thiền) giúp bạn trưởng thành, vững mạnh và tĩnh lặng. Nó sẽ chỉ ra cho bạn những xung đột, những khủng hoảng không phải chỉ của thế giới bên ngoài mà ngay chính bạn. Nó chỉ ra những quy luật khiến bạn hoảng sợ không dám thừa nhận. Nó chỉ ra những con đường độc đạo, nơi chỉ có mình bạn độc hành, chẳng hề có hoa thơm trái ngọt, chim hót bướm lượn. Nó chỉ ra cả sự tận cùng của thống khổ như là bạn hay người bạn yêu thương chắc chắn sẽ phải chết, hay mọi điều về cơ bản chắc chắn sẽ hủy diệt. Mọi thứ đều có vị ngọt đấy, nhưng đằng sau đều ẩn chứa những hiểm nguy. Nó giúp bạn học được những bài học lớn và trở lên lớn mạnh, cũng như vững chãi như vậy.

Bạn đang ở đâu? Bạn muốn thế nào thì nó sẽ là như vậy chứ không phải lỗi của Tâm linh.

Gai

Biết nhiều như cái cây có gai. Mỗi cái biết lại trổ 1 cái gai. Chúng bám chặt vào cây, k chịu rụng. Càng ngày càng chi chít. Để bất cứ cái gì “xúc” với nó đều vỡ, đều đau, chẳng thể chạm chẳng thể tới gần.

Biết đủ thấu, gai mọc lên rồi diệt. Chúng giúp cây khỏe và vững hơn. Vỏ vẫn nhẵn nhụi như thế. Chẳng gì bám vào được cái vỏ nhẵn đó. Nhưng cũng chẳng vì thế nó làm tổn thương ai. Người qua đường vì thế, ngả lưng vào cây, ngủ một giấc an lành vào ban trưa, hay chỉ chút tận hưởng bóng mát ngày nắng nóng, chút tránh gió ngày giông bão.

Hay là không biết để làm cái cây không gai.

Tâm giải thoát – có gì ghê gớm?

(Nhân tiện mấy đạo hữu tớ đang mạn đàm về Tâm giải thoát, kính mong các đạo hữu khác phái cũng vô mạn đàm chút chút nha)

Đa số mọi người đều cho rằng Tâm là một cấu trúc nguyên khối, hay là một cái gì rất cụ thể, một khái niệm độc lập, một danh từ riêng. Có trường phái thì chia ra là Nguyên thần và Thức thần để cho cái Tâm biết trực tiếp và Tâm biết gián tiếp. Có trường phái thì chia ra Chân tâm và không phải chân tâm. Có trường phái chia ra là Đại toàn thiện và không phải còn lại. Có trường phái chia là Bản nguyên và không phải còn lại…. Và cái người ta tu đạo, thực hành làm cho kì được là bỏ hết các phần không phải, còn lại kia để trở về: Nguyên thần, Chân tâm, Đại toàn thiện, Bản nguyên…. Và khi đạt được điều đó rồi, thì đó chính là Tâm giải thoát, Tâm chân như, Nguyên thần… Nơi mà chỉ còn cái Tâm biết trực tiếp.

Người ta ví cái Nguyên thần, Chân tâm, …hay cái tâm biết trực tiếp này đôi khi đơn giản như tâm của một em bé: vô tư trong sáng hồn nhiên, đôi khi ví nó như tâm một bậc Thánh: an nhiên, tĩnh lặng, thẳm sâu, đôi khi ví nó rất màu nhiệm như có các trực giác hay linh giác, thông linh, linh cảm… Vì nơi ấy bản ngã không còn, vì nơi ấy không còn phán xét, không còn đánh giá, không còn so sánh hay không còn suy nghĩ.

Nhưng hỏi một hồi: bản ngã là gì? Làm sao để không còn phán xét, đánh giá, so sánh, hay suy nghĩ…? Thì lại quay về là tu để có Nguyên thần, Chân tâm, Bản nguyên… Vấn đề xoay vòng, xoay vòng, không có lời giải. Và tu thế nào thì một loạt các phương pháp đã ra đời: ngồi thiền, bắt ấn, định tâm nơi nào đó, thậm chí khổ hạnh, độc cư… Rồi đủ các lý giải, mổ xẻ, đàm luận các kiểu để làm chủ tâm, điều khiển tâm, làm chủ cảm xúc, làm chủ thân, khẩu, ý…, rồi tranh cãi có đi vào ức chế tâm hay là không?…

Như bài lâu lâu đã viết, cuối cùng thì các phương pháp cũng lờ mờ nhận ra một vài khoẳng khắc, giây phút mà ở đó vắng lặng suy nghĩ, không có trong hệ quy chiếu không gian và thời gian, chủ thể không còn khởi lên cái tôi, cái ta…Nhưng rồi làm sao để lặp lại, làm sao để duy trì, làm sao để truyền đạt,…thì lại cho rằng: mỗi người một căn, mỗi ngày một trường năng lượng dẫn tới không ngày nào giống ngày nào…rất chung chung mơ mơ hồ hồ, vi vi ảo ảo…

Có mấy ai biết được rằng Tâm là tập hợp của các Thọ (cảm giác), Tưởng, Hành (các tâm hành), Thức (kiến thức, tri thức…). Cảm giác hình ảnh, cảm giác âm thanh, cảm giác mùi, cảm giác vị, cảm giác xúc chạm, cảm giác pháp trần. Các cảm giác này được ghi nhận bới một cái Tâm biết trực tiếp (Tưởng). Và một cái Tâm biết gián tiếp (Thức) thông qua cái kho chứa kinh nghiệm, tri thức, văn hóa, xã hội…của mỗi một cá nhân định nghĩa, diễn giải,…nó bằng ngôn từ, hình ảnh, khái niệm.

Bạn không thể công nhận điều này vì bạn không biết và bạn không cho rằng là như vậy. Nhưng để lấy khái niệm mà bạn đã biết: thân này là cấu thành của các nghiệp, nghiệp quá khứ, nghiệp đời này, nghiệp chồng nghiệp tạo nên cái xác thân và cái tâm này. Nghiệp đó là gì: tổng hợp của các cái thấy (tâm biết trực tiếp – a lại da thức), cái biết (tâm biết gián tiếp – mạt na thức) và 6 cái thức khác: nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Vì chia ra làm 8 thức này, nên tu để tìm cách bỏ 7 cái thức kia chỉ còn cái thức thứ 8, sau khi bỏ nốt cả thức thứ 8 thì còn Như lai thức – thức thứ 9 = chân tâm, nguyên thần,….

Nhưng cái mà Phật Thích ca Màu Ni lại chỉ ra đơn giản: khi mà 1 căn tiếp xúc 1 trần sẽ sinh ra 1 thọ, mà phải nói đầy đủ: Thông tin tế bào thần kinh mắt >< thông tin hình ảnh >> cảm giác hình ảnh, cảm giác hình ảnh được ghi lại bởi nhãn thức. (tương tự với tai, mũi, lưỡi, thân, ý) Các tế bào thần kinh nơi giác quan khi tương tác với thông tin của trần cảnh (sắc), hay thông tin là thông tjn (danh) thì mới phát sinh ra một thông tin mới. Thông tin này là Cảm giác (Thọ), thông tin này cơ bản trôi nổi nên nó là Tưởng được ghi lại bởi các thông tin tế bào não tương ứng với vùng giác quan (Thức). Loằng ngà loằng ngoằng, nhưng ai học Sinh học hay Hệ thống thông tin đọc tới đây đều hiểu: 1 – đó là sự tương tác do các thông tin tế bào nơi giác quan và thông tin khác, 2 – có sự truyền dẫn thông tin từ tế bào giác quan lên tế bào thần kinh não nơi vùng giác quan. Chính vì nó là thông tin, được ghi nhận bởi tế bào thần kinh mà nó sẽ k còn như ban đầu ngay khi có 1 yếu tố bị xê dịch (hình ảnh đưa xa, lại gần, xoay), và k giống ai với bất kì ai (tế bào thần kinh mỗi người là khác nhau).

Và ở đây, khi đã hiểu vấn đề khoa học căn bản đơn giản như vậy thì ta thấy sự vô thường, vô ngã vô cùng đơn giản. Nó vô chủ, vô sở hữu cũng càng đơn giản vì phải có 2 thông tin tương tác mới phát sinh một thông tin mới, không thì nó cũng không có. Mắt mà k nhìn thấy vật (do bị che) thì cũng không thể có cảm giác hình ảnh hay nhãn thức được ghi nhận lại được.

Đến việc làm sao để không còn suy nghĩ, phán xét, đánh giá, so sánh… thì càng đơn giản là không cho cái mà “thức” mà chúng ta tiếp nhận được matching (trong phim hình sự, khi cần tìm kiếm cái gì, người ta đưa thông tin tội phạm vào máy tính để matching thì thôi) với thông tin nào trong kho chứa sẵn có của chúng ta. Chúng giống thì ta thích, chúng không giống thì ta ghét, không có thì ta phải đi tìm cho có. Có rồi thì so sánh, đánh giá, hơn thua, đúng sai… Thông tin mà chúng ta không đối chiếu, không làm cho tế bào thần kinh não nơi trung khu tư duy hoạt động thì làm sao nó hoạt động được. Và tư duy không hoạt động thì cái biết ý thức không sinh khởi, mạt na thức không có, vì không có mạt na thức nên nghĩ 6 cái thức kia cũng không có. Mà còn lại cái A lại da thức – cái biết trực tiếp. Chuẩn là 6 thức kia đã được sanh khởi rồi ngay khi Căn Trần tiếp xúc dù là đứa trẻ, hay người già, người giàu hay nghèo, bậc Thánh hay kẻ ngu trí, nhưng do chánh niệm mà chúng k leo lên khu tư duy rồi nhào lộn trên đó mà dừng lại ở Tâm biết trực tiếp, không kích hoạt kho chứa Vô minh.

Nếu biết việc dừng lại ở Tâm biết trực tiếp này thì ta không thấy có gì nhiệm màu, hay phải bậc Thánh mới có thể làm được. Cũng không phải là trời đẹp thì có Chân tâm, ẩm ương xụt xùi là không có. Hay không phải người này có căn cơ học, người kia không có căn cơ… Ai cũng làm được hết, cũng học được hết, chỉ là có chịu hiểu, chịu thấy không mà thôi.

Tâm giải thoát là như vậy. Không có gì ghê gớm cả. Cũng không phải lên rừng xuống biển, quay đầu vào tường 9 năm để ngộ Tâm giải thoát. Cũng không phải là bậc Thánh vui thì biết vui, buồn thì biết buồn, hay là không dính mắc, ràng buộc, hay là thờ ơ, hay là không thêm dầu, cũng không bớt củi… Mà đơn giản là các Cảm thọ đó được các bậc Thánh ghi nhận với Tâm biết trực tiếp, không làm nó phát sinh các Tâm biết gián tiếp bằng cách luôn Chánh niệm, tỉnh giác. (Tỉnh giác là vẫn biết mọi thứ đang như nó là, chứ k phải mù, câm, điếc, bệnh, down, ngủ mơ…để mà không biết thật, tức là không có thông tin tới các tế bào thần kinh của giác quan).

Như vậy, hiểu Tâm giải thoát là do các thông tin của Thọ, Tưởng không bị đẩy đi để Tư duy thì Tâm giờ như cái Lá sen vậy. Có chỗ nào để mà cho bất cứ thứ gì bám đâu. Thì làm gì còn chỗ cho cảm xúc cá nhân, làm gì còn chỗ cho tri thức kinh nghiệm, làm gì còn có đối tượng bên ngoài, làm gì còn hỉ, nộ, ái, ố… Lúc đó ngay cả những thứ mà cả nhân loại đang ca ngợi cũng chẳng có cái gì gọi là bình an hay tự do cả. Vì bình an hay tự do vẫn là những khái niệm cần có thông tin ngoại cảnh. Mà ở đây ngoại cảnh không tồn tại thì đâu cần tự do hay bình an. (Tức là không có thông tin tương tác thì không phát sinh trạng thái)

Còn là một người có chuyên môn maketing, nhúng cái Tâm biết trực tiếp không có Tính này vào môi trường nào, khái niệm nào chẳng ra một loạt các miêu tả văn chương đầy mỹ từ và ái ngữ. Nhưng:

Tâm tròn không cầu sáng

Tâm tĩnh không cầu an

Tâm tràn không cầu đủ

Là Tâm không cầu Tâm

P/s: dài nhỉ, nhưng đọc đi để chém

30 chưa phải là Tết – Chết chưa phải là hết

Sống thế nào, chết ra sao, bệnh có cần chữa, chết thuộc hay không thuộc về đâu? Một vài niệm xin mạn đàm cùng các đạo hữu.

Ý 2 câu đầu tạm hiểu, ngày 30 vẫn chưa phải là mở đầu một năm mới, chết cũng chưa phải là một sự kết thúc. Không nói tới chủ nghĩa duy vật nặng, thì gần như ai trong chúng ta cũng sẽ băn khoăn về việc chết xong thì thế nào? Chết liệu có phải là hết? Chết xong thì được lên thiên đàng hay địa ngục? Phái này thì cho rằng lên thiên đường, phái kja bảo xuống địa ngục, phái thì sẽ tới cõi giới nào đó và ra sức tu hành, làm phước, từ thiện… để được rơi vào một cõi mà họ theo đuổi. Có phái thì lại ra sức tu để chết không đi về đâu cả, hay gọi là giải thoát, vô tác và họ càng làm ít việc ở đời càng tốt, càng bớt dính mắc, ràng buộc, tạo tác ở đời càng tốt. Nhưng có phải cả hai đều đang đi vào cực đoan Có hoặc Không?

Đến đây, tôi lại nhớ về việc người ta nói về việc sống của loài người hiện nay đa phần sống mà như đã chết. Ý là, con người sống trong sự vô minh, bị các tham ái, dục lạc thế gian che mờ, sống vọng tưởng, phóng dật về tương lai, truy cầu về quá khứ nên không biết sự thực của thực tại thế gian này, cũng như không biết sống trọn vẹn trong giây phút này để tận hưởng vẻ đẹp cuộc sống. Đến đây, những người tu giải thoát cũng cho rằng, thế giới này đâu có thật, ta đâu có dính mắc, ràng buộc với thế giới, nên đẹp hay không đẹp cũng vậy thôi. Ta đến thế gian này là cõi tạm, và đời người đến giây phút chết với phương pháp tu hành của ta chắc rằng ta sẽ được giải thoát. Còn những con người còn mê đắm với cuộc sống, thế gian kia sẽ lại bước trở lại trở vô qua luân hồi sinh tử. Và, sau cái chết, đã có cực đoan: cõi hay không cõi, trong khi sống cũng lại mang cực đoan: tận hưởng hay không tận hưởng.

Hôm nay, tôi vô tình thấy một bà xách một con gà đã được vặt lông sạch sẽ. Tự dưng trong kho chứa vô minh lại nổi lên: ăn thịt quả là sát sinh, kiếp trước con gà là gì, kiếp sau con gà là gì, ai tu thế nào để sau làm gà, mình tu thế này sau có làm gà không? Và rồi, tôi lại nhớ tới lời thầy tôi: sanh y dù có như 1 giọt nước rơi xuống cái chảo đỏ rực, rồi bốc hơi rất nhanh thì vẫn còn sanh y. Là một người ăn chay, mà lúc nào cũng chỉ nghĩ tới, làm vậy mà sát sinh, làm vậy mà tái sinh…tôi thấy giống bài học bên Luật hấp dẫn của Mỹ quá, và bật cưòi: vũ trụ chỉ ghi nhận từ Sát sinh và Tái sinh thôi.

Quay trở lại với chủ đề Sống hay là Chết.

Khi sống, bạn hiểu thế giới này do 6 căn tiếp xúc với 6 trần này mà sinh ra các cảm thọ. Tâm biết trực tiếp ghi nhận các cảm thọ. Tâm biết trực tiếp tương tác với thông tin trong kho chứa vô minh đưa tới tâm biết gián tiếp và hệ quả là phát sinh các tâm hành mà dẫn tới các ăn, nói, hành động… của chúng ta (tóm tắt vậy, sẽ có bài kĩ hơn). Vì thế giới này là cảm thọ nên chúng vô thường, vô ngã, vô chủ, vô sở hữu, không mời mà đến, không đuổi mà đi. Vì thế giới này là cảm thọ nên chúng có khổ, có lạc, có bất khổ bất lạc. Trong cái lạc đó có chứa vị ngọt nhưng vì là đặc tính của cảm thọ nên chúng có chứa sự vô thường, sự nguy hiểm, sự xuất ly (sinh diệt). Con người vì say đắm lạc thọ, đam mê lạc thọ mà bỏ qua các đặc tính của nó, mà tìm cầu, mà phi như lý tác ý. Chúng ta hiểu được sự thật này thì chúng ta sẽ bình thản sống. Đẹp biết đẹp, xấu biết xấu, hay biết hay, dở biết dở… Nhưng tất cả chỉ là cảm thọ ở nơi tâm ta, hay là các thông tin sắc và danh ở thế giới này. Không vì thế mà ta chán ghét, không vì thế mà ta si mê. Cũng không vì thế khiến ta muốn phải ở lại, hay vì thế cần phải ra đi. Nên không tồn tại khái niệm đang sống hay chết nơi tâm ta nữa.

Có một thắc mắc, sống hay chết không quan trọng, vậy thì nếu bị bệnh hiểm nghèo thì sao? Cứ kệ cho chết luôn phải không? Vì lúc này sống cũng thế, chết cũng thế. Nếu nghĩ như vậy, thì thật là mới chỉ được một phần của bề nổi. Bạn lại rơi vào cực đoan ban đầu, ta đã không màng sống chết, tức là ta sẽ được giải thoát, hay là ta không bị tái sinh nữa. Hai từ giải thoát và không tái sinh này có khác gì nhau đâu. Bạn vẫn còn nghĩ tới sự tái sinh, sự hiện hữu sẽ là cái gì sau cái chết (có thân, vô thân, hay thậm chí vô vô thân). Nó rất vi tế len lỏi đằng sau cái các tâm thức của bạn.

Vậy bạn sẽ ứng xử thế nào?

Tôi lại kể ra đây một câu chuyện của tôi. Tôi có số làm sếp. Vì vậy mà ở đâu tôi cũng bị làm sếp. Không biết người khác thế nào, nhưng tôi chán ghét việc làm sếp kinh khủng. Dù ai đó nói tôi tài, tôi giỏi thì tôi cũng thấy mệt mỏi vô cùng. Thêm nữa, tôi đi học đạo, nói rằng càng ít ràng buộc, dính mắc càng tốt. Vì vậy, tôi càng ghét làm sếp, vì tôi phải làm bao nhiêu thứ liền, giải quyết bao nhiêu việc, trách nhiệm rõ nhiều. Tôi phát điên lên vì việc này. Chỉ muốn cắt chức giám đốc để đi tu. Nhưng rồi, khi tôi nhận ra: tôi không thể vượt qua được việc này, thì bài học này sẽ còn cứ lặp đi lặp lại ở các kiếp sống của tôi. (Các kiếp sống khác tôi đều làm tướng). Tôi không chối bỏ mình nữa, tôi chấp nhận việc tôi có khả năng và được giao trách nhiệm này. Tôi cần học cách vừa làm sếp vừa tu học. Tôi cần học cách không bị ràng buộc, vướng mắc vào hoàn cảnh tôi đang có. Tôi biết ơn cuộc đời đã cho tôi một cơ hội để nhìn rõ con đường mình đi, những nhân duyên nào đưa tôi đến việc tôi vẫn là sếp và điều gì sẽ chờ tôi khi tôi đi qua những bài học này.

Tôi nghĩ bạn đã nhận được câu trả lời cho việc bạn cần đối diện với việc mình bị bệnh như thế nào. Nếu bạn vừa ngồi thiền, vừa rung đùi, thế là mình ốm nặng rồi, mình sắp chết rồi, mình sắp được giải thoát rồi, thì thật sự là một cái chết ngu ngốc, lãng xẹt, chẳng khác mấy đứa tự tử – thay vì tự tử chết ngay thì bạn đang chết dần dần. Cái căn bệnh và cái chết này không đem lại cho bạn bài học gì cả, bạn không học được điều gì từ chúng. Và với ý nghĩ giải thoát (không tái sinh) thì bạn vẫn tái sinh như thường. Thậm chí vì bạn chối bỏ thân thể này, chối bỏ những gì đã làm nên bạn của ngày hôm nay, nên lần sau bạn trở lại, không những vẫn xấu xí thế mà còn xấu xí, méo mó hơn. Tôi không độc mồm độc miệng, mà đó là sự thật. Do duyên gì đã tạo nên bạn của ngày hôm nay? Do duyên gì đã tạo nên căn bệnh của bạn ngày hôm nay? Tôi không nói bạn sống ác, sống không thiện như một số tôn giáo cho là vậy. Mà sáng nay tôi bị đau bụng, tôi kiểm tra ra hóa ra tôi đã ăn đồ không được tốt mà mắt thường không phát hiện ra. Vậy những duyên đưa bạn tới đời sống này, căn bệnh này là gì? Bạn phải tự tìm câu trả lời. Sau đó, Một là bạn với sự tuệ tri của mình, sẽ sám hối hay là không lặp lại duyên đó nữa, nhổ bỏ cái nhân vô minh đó đi. Hai là cũng với sự tuệ tri của mình, bạn biết ơn cái quả này đã cho bạn có cơ hội tuệ tri về duyên trước đó. Với sự liễu tri về sự việc này, có thể giúp bạn hiểu được về trước đây và sau này của mình. Cái nhân quá khứ được diệt trừ sẽ đưa tới quả gì trong hiện tại. Cái nhân hiện tại sẽ gieo, có đưa tới việc mình đi theo con đường cần phải đi.

Tóm lại, dù là sống theo cách tận hưởng hay không tận hưởng, chết vào cõi nào hay không cõi nào cả thì cũng đều đang rơi vào các cực đoan. Việc của bạn là không chối bỏ chính mình. Thừa nhận cả những điều tốt, lẫn không tốt ở mình (như cây lúa cần có cả ánh sáng, nắng gió, …phân, sâu, ong bướm..vậy) qua đó tìm ra bài học, tìm ra duyên gì đưa mình đến như ngày hôm nay, tìm ra duyên gì sẽ đưa mình tới ngày mai.

Kinh tối thắng tám kệ

Một đứa từ khi đẻ ra đã được định danh làm sếp thì cái việc bắt, muốn, thích người khác làm theo ý của mình nó cứ như được lập trình sẵn vậy. Thế này mới là tốt, thế này mới là hay, thế này mới là đúng: làm việc này đi, học cái này đi, đọc cái này đi, tập cái này đi, dùng cái này đi…

Xưa thì khó chịu thật sự vì người ta không đúng ý mình. Sau thì, tự huyễn mỗi người một căn cơ, mỗi người một duyên và cho rằng mình may mắn tốt hơn vì mình được học, được hành pháp đúng, họ kém duyên, thậm chí vi tế sâu xa, họ là hàng thấp kém, phàm phu, hạ liệt… Chính cái tư tưởng này mà ta thường không thèm cãi lại họ nữa, nhưng sự thực trong tâm ta có lắng dịu không? Hay cái nhân của việc không đúng ý ta nó vẫn gây sự chú tâm cho ta, để rồi lần sau gặp ai đó ta như thế lại: ôi dào, mỗi người một căn cơ mà, ta không giống họ để tranh luận với họ… Sự chấp thủ, so sánh ta và đối tượng rất nhẹ nhàng vi tế lướt qua não ta rất nhanh như vậy. Hãy khéo léo quan sát lại xem có phải vậy không?

Đến đây, tôi thật sự không muốn bạn tranh luận với các câu chữ này, hay các pháp trần của bạn đang nổi lên và nó đang loạn xạ vào nhau nói rằng hình như người viết bị dở hơi rồi, thế này mà đòi học Chánh pháp. Nhưng thật sự, tôi muốn cùng bạn lặng yên, cùng đọc lại, cùng quan sát kĩ càng từng câu từng chữ bài Kinh này. Chỉ có vậy thôi.

Kinh Tối Thắng tám kệ (Sn 156, Kinh Tập, Tiểu bộ Kinh 1 – Kinh Nikaya – HT Minh Châu dịch)

796. Ai thiên trú trong kiến,

Xem kiến ấy tối thắng,

Ở đời đặt kiến ấy,

Vào địa vị tối thượng.

Người ấy nói tất cả,

Người khác là hạ liệt,

Do vậy không vượt khỏi,

Sự tranh luận ở đời.

797. Khi nó thấy lợi ích,

Ðến với tự ngã nó,

Ðối với vật thấy nghe,

Giới đức hay thọ tưởng;

Vị ấy ở tại đấy,

Liền chấp trước nắm giữ,

Nó thấy mọi người khác,

Là hạ liệt thấp kém.

798. Người y chỉ kiến ấy,

Thấy người khác hạ liệt,

Bậc thiện nói như vậy,

Ðấy là sự trói buộc;

Do vậy đối thấy nghe,

Thọ, tưởng hay giới cấm,

Bậc Tỷ-kheo không có

Y chỉ, nương tựa vào.

799. Chớ có tác thành ra

Tri kiến ở trên đời,

Từ ở nơi chánh trí,

Hay từ nơi giới đức,

Không bận tâm so sánh,

Tự ngã bằng người khác,

Không có suy nghĩ đến,

Ðây “liệt ” hay đây “thắng”.

800. Ðoạn tận, từ bỏ ngã,

Không chấp thủ sự gì,

Không tác thành, dựng nên,

Nương tựa ở nơi trí,

Chân thật giữa tranh chấp

Không theo phe phái nào,

Vị ấy không đi theo

Một loại tri kiến nào.

801. Với ai, hay cực đoan,

Không có hướng nguyện gì,

Với hữu và phi hữu,

Hay đời này đời sau,

Vị ấy không an trú,

Tại một trú xứ nào,

Từ bỏ mọi chấp thủ,

Ðối với tất cả pháp.

802. Ðối vị ấy ở đây,

Những gì được thấy nghe,

Ðược cảm thọ tưởng đến,

Chút suy tưởng cũng không;

Vị Bà-la-môn ấy

Không chấp thủ tri kiến,

Không ai ở đời này

Có thể chi phối được.

803. Họ không tác thành gì,

Họ không đề cao gì,

Các pháp không được họ,

Chấp trước nắm giữ gì

Không một Phạm chí nào,

Bị giới cấm dắt dẫn,

Ði đến bờ bên kia,

Vị ấy không trở lui.

Bài học gì sẽ đến với bạn?

Tết nhất đến nơi rồi mà mấy ngày nay mình toàn bị trộm thôi. Người thì trộm bài viết của mình, người thì trộm túi mứt dừa ngon nhất mà mình vừa order xong. (Nó quá nhỏ bé và buồn cười so với việc mỗi năm mình làm từ thiện, cho đi cả trăm triệu đồng. Nhưng một lỗi nhỏ, không dám nhìn vào, phân tích sâu xa, quán triệt tới cùng, mà bảo rằng bỏ qua đi, không đáng thì chỉ là ta đang tự cho mình là cao quý hơn mà bỏ qua thôi.)

Tính ra, cái gì cũng là cái mình thích: bài viết cũng là tâm huyết của mình, ngồi thiền quán bao nhiêu lâu, đủ định tĩnh mới có thể viết ra, do tham ái muốn chia sẻ kiến thức mình có được mà mình mới tác ý để viết; rồi gói mứt dừa cũng thế, mình thích ăn, do tham ái vị ngon của nó mà mình tác ý mua nó về thưởng thức. Cái nhân chúng có mặt, để chúng là thủ uẩn của mình, rồi mình coi mình là chủ nhân chủ sở hữu của chúng đều do một cái nhân tham ái mà ra.

Viết ra tới đây, đúng là mình đang bực thứ nhất là vì có người khác lấy đồ của mình, mình đang chấp thủ uẩn: cho rằng sắc này là của ta, thức này là của ta, và người khác lấy của ta thì ta không thích.

Nhưng còn một cái bực khác nữa, đó là hai người ăn trộm của mình đều là những người hành thiền. Và mình tà tri kiến rằng: những người hành thiền thì hết sức đoàng hoàng, nếu họ có lấy của mình thì sẽ phái nói với mình một câu, không có chuyện lẳng lặng lấy như thế. Chính cái chấp tri kiến cá nhân này, mà khi nó không đúng như mình nghĩ, nó không matching với kho chứa tri thức cá nhân khiến mình khó chịu.

Mình cứ thấy như cái thằng robot ở trong đầu mình nó cứ tự nói: người ta không đúng, làm vậy là không đúng, thật sự là không đúng… Và mọi cái tư duy sau một hồi chạy lòng vòng, vẫn cho ra một thứ kết quả: không đúng. Và khuấy động, và tìm câu matching đúng ở bên ngoài. Matching đâu không thấy, chỉ thấy thêm “buồn cười”.

Và giờ lại ban căng là nó lại mâu thuẫn với tà tri thức thứ hai: học đạo rồi thì không được khó chịu với mấy cái thứ này. Nếu là người không học đạo: bạn bị ai đó lấy đồ, bạn chửi um lên là xong, không phải tư duy nhiều. Cái bực thứ nhất: chấp thủ uẩn, cái bực thứ hai: chấp tà tri kiến ngoại, cái bực thứ ba: chấp tà tri kiến nội. haha. Và đúng là: hoại khổ, khổ khổ, hành khổ có mặt đủ cả. Khổ nọ chồng chất khổ kia, tới lui chẳng được.

Tư duy một hồi chán chê, thấm thía câu: Khi ta đứng lại, thời ta bị chìm xuống; Khi ta bước tới, thời ta bị trôi dạt. Do vậy, ta không đứng lại, không bước tới, ta vượt khỏi bộc lưu.

Đã quên mình có 1 bài viết và 1 gói mứt. Do 2 thứ này k có mặt nên việc ăn trộm k có mặt. Do ăn trộm k có mặt, mình k khổ.

Trạch pháp giác chi?

Nghĩa đầu tiên mà đa số chúng ta sẽ hiểu Trạch pháp là phân biệt đâu là pháp của Phật thật, đâu không phải; hay đâu là Minh, đâu là Vô minh. Nhưng có thật sự chỉ đơn giản như vậy không? Khi mà chúng ta, kẻ hữu học lại tự quàng cho mình thêm một cái tự ngã: ta đúng và người khác sai, ta đang đi trên con đường của thánh nhân còn người khác là hạ liệt. Dù rằng rất nhiều bản kinh được Đức Phật dùng từ rất thẳng thắn: này kẻ ngu si kia, kẻ phàm phu kia… nhưng hãy khéo léo xem đó là những người như thế nào: đang chấp thủ chặt chẽ, đang tham ái, dục vọng…đầy mình, đang chưa hề được nghe và thực hành pháp các bậc thánh….

Trạch pháp giác chi là chi phần thứ hai sau niệm giác chi. Niệm là cái gì thì nói nhiều rồi. Trong niệm thì có cả chánh niệm và tà niệm. Các bậc Alahan chánh trí thì hoàn toàn là chánh niệm, còn bậc hữu học đang tu tập thì cả chánh và tà. Nhưng chẳng thể nói được người mới tu và người tu lâu thì ai ít hay nhiều tà niệm hơn. Cái đó phụ thuộc vào thức tái sinh của mỗi người, trải nghiệm, học thức… của mỗi người. Một ông 50 tuổi học vị cao, tu 10 năm với 1 cô gái 20 tuổi tu 1 năm, chắc gì ông kia đã ít tà niệm hơn 1 cô gái còn đang tuổi vô lo vô nghĩ. Nếu cô học chánh pháp, hiểu ngay là căn tiếp xúc trần là phát sinh thọ, dừng lại ở ghi nhận, nhớ đến chánh niệm trên thân là tà niệm không sinh khởi nữa. Cô dễ dàng viên mãn hơn với Tâm giải thoát. Đừng mặc cả là cô ấy chưa có Tuệ. Tuệ là hiểu về sự vô thường, vô ngã, vô chủ sở hữu để mà từ đó không ràng buộc, dính mắc vào đối tượng. Tri kiến đầy mình, ai khó từ bỏ, chấm dứt, đoạn diệt hơn ai? Buồn cười là nhiều người tu tập đều dừng lại ở chỗ ai chánh niệm hay ai tà niệm và so sánh ta hơn, ta kém, ta bằng ở đây. Và cho rằng đó là Trạch pháp.

Đúng là, mọi thứ nên quy về đơn giản, cái này là chánh niệm, cái kia là tà niệm, cứ tà niệm nổi lên là ta biết ta đang thất niệm để mà quay về chánh niệm. Nhưng đâu có dễ dàng như thế với rễ cây đã được cắm chặt, nhân vô minh đã gieo sâu, và nếu đơn giản vậy, Đức Phật đã không mất công thuyết hàng ngàn bài pháp như vậy. Ví dụ: trong bài #Kinh hai pháp tùy quán Sn.139 (Tiểu bộ 1), Đức Phật cũng chỉ ra rất nhiều duyên đưa đến Khổ hiện hữu: do duyên sanh y, do duyên vô minh, do duyên hành, do duyên thức, do duyên xúc, do duyên thọ, do duyên ái, do duyên khởi xướng, do duyên dao động, do duyên nương tựa… Và với mỗi một duyên dẫn tới Khổ hiện hữu thì đều đưa ra một pháp để thực hành để đưa đến cắt đứt duyên đó vậy.

Có thể là tôi đã quá cầu kì trong việc phân lập, chia nhỏ, nhưng sự thực, rất nhiều vị hữu học đang khổ mà không biết mình khổ. Vì các đề mục khổ gồm những gì còn chưa nắm rõ, nữa là cánh cửa dẫn tới khổ. Hãy khéo léo nhận ra lúc nào mình thất niệm. Tâm phóng dật, vọng tưởng, chẳng thể định tĩnh nổi, mà phải suy cái nọ, nghĩ cái kia, viết lách nọ chai, khoe hàng này nọ,…tóm lại phi như lý tác ý lên các duyên ở đời. Người định tĩnh, bình an, nội tâm thanh tịnh đã không hô hào, gào thét, cố chứng tỏ mình với thế giới một điều gì cả. (Tôi ngồi viết bài này cũng là khổ, tâm nọ kia có mặt đầy đủ vì đáng ra thời gian này dành cho thiền, thì tâm tôi lại vọng tưởng để viết. Viết xong khéo lại bị ném đá. Tâm không định tĩnh là lại có khổ hiện hữu. ).

Trạch pháp giác chi có được trên việc hoàn mãn Niệm giác chi. Vì ngoài nhận biết có niệm khởi lên, thì biết sợi niệm đó thuộc loại niệm gì: xanh, đo, tím, vàng, hồng, lam, chàm, tím… Trạch pháp không chỉ chỉ rõ đó là chánh niệm hay tà niệm, mà còn chỉ rõ đó là niệm khởi lên do tâm hành nào, do duyên gì, trên nội pháp, ngoại pháp nào. Sự thấy rõ, sự soi sáng này của Trạch pháp giúp vị hữu học tự #là_thầy của chính mình, tự mình nương tựa mình là như vậy. Vì chỉ có vị ấy mới biết mình đang gặp lỗi ở đâu, đang gặp duyên gì mà niệm sanh khởi, cần dùng pháp hành gì để cắt đứt, đoạn trừ.

Tiếp sau Trạch pháp là Tinh tấn là vậy. Sự Tinh tấn giác chi này không phải đến từ niềm tin, hay đến từ lòng dục, mà đến từ sự hiểu biết rõ ràng do Trạch pháp mà có được: cái này cần tinh tấn từ bỏ, cái này cần tinh tấn thực hành đi tiếp. Đều là do mình tự hiểu biết, tự nhận ra để Như lý tác ý.

Mấy nay âm u, ầm ì, cái đầu nó cũng ầm ì, âm u.

Thực hành Tứ niệm xứ?

Một hiện tượng phổ biến là người tu tập hay thậm chí hành thiền càng lâu năm càng dễ rơi vào tham, sân, si hay nhiều người tặc lưỡi đổ càng tu cao càng chướng duyên. Do đâu? Làm thế nào?

Chúng ta biết rằng cứ căn – trần tiếp xúc sinh ra các thọ (cảm giác: cảm giác hình ảnh, cảm giác âm thanh, cảm giác mùi, cảm giác vị, cảm giác pháp trần) chính vì vậy mà cứ mặc nhiên cho rằng mình đang thấy các thọ rồi. Mình thấy các thọ, ghi nhận đó là thọ, tưởng thế là dừng ở tâm biết trực tiếp rồi. Biết đâu rằng, cái bộ vi xử 1000i của mình đã nhanh chóng khéo léo đưa cái ý thức được nảy sinh sau thọ, tưởng đó nhét nó vào kho chứa. Càng thực hành lâu, cái kho chứa đó càng dày, càng vi tế càng rõ rệt. Và phải nói thật là bạn càng ngày càng thông minh, càng hiểu biết. Vì phần quán tâm biết trực tiếp này của bạn đã quá thuần thục. Bao nhiêu người ngoài kia họ k thực hành pháp thì họ chỉ nhận ra những sắc, thanh, hương, vị… một cách thô, còn bạn có thể nhận ra nó ở mức vi tế hơn rất nhiều. Vì đó là cơ chế tự nhiên, càng chú tâm cái gì thì càng tường tận cái đó. Và một khi kho chứa đạt tới mức có thể matching rất nhiều toàn bộ thông tin dữ liệu nạp với cái vô minh có sẵn thì lúc đó… gặp chướng duyên: tham vi tế, sân vi tế, si vi tế, kèm theo phóng dật và vọng tưởng thậm chí còn nhiều hơn. Biểu hiện bạn dễ dàng phản ứng đúng sai, so sánh, tốt xấu, hay dở với mọi thứ. Nhiều người còn nảy ra các khả năng đặc biệt, hay các ý tưởng được cho là lớn, vĩ đại … Vì tâm bạn đã quá thuần thục với việc nhận ra các cảm giác (thọ), hay các tế bào thần kinh não đã khai thác tới kho chứa tưởng thức trước đây… Nhưng các “biết” nhiều bao nhiêu, càng “khổ” bấy nhiêu là vậy.

Có thể bạn đang nhận ra đó là các lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, các thọ ấy biểu hiện trên các nội thọ, hay trên các ngoại thọ (cảm giác bên trong, cảm giác bên ngoài). Nhưng tính sinh diệt các thọ bạn chưa thực sự làm được, chưa thân chứng được việc này, thậm chí chưa duy trì được việc này. Bạn có thể nhận ra phần thô ở tiếng từng hạt mưa rơi xuống rồi mất, ở từng cơn gió lạnh thổi chạm vào da rồi mất, nhưng chưa nhận được ra cảm giác pháp trần (hay có nơi gọi là ý niệm) đến rồi mất. Nếu có mới là nhận ra một lộ trình tâm đang xảy ra, hay một tâm hành đang xảy ra. Thậm chí bạn chưa thân chứng được sự sinh diệt của các thọ, các thọ nảy sinh nơi 6 xứ, nó chỉ dừng lại nơi 6 xứ, các tế bào thần kinh tại 6 xứ này không dẫn truyền tiếp các thông tin vào khó chứa để tư duy. Khi ở trạng thái này, bạn nghe nhưng tiếng của nó là ở nơi nó phát ra, nó thậm chí dường như không hề ở tai bạn; bạn thấy gió, thậm chí bật cái quạt thốc vào người, gió như không chạm tới da thịt bạn, gió ở nơi không khí quanh bạn. Bạn là bạn, mọi thứ là mọi thứ. Bạn dường như trơ trơ ra như đá. Cũng có thể bạn như cái máy quay li tâm ở tốc độ cao mà cái gì đi vào cũng văng ra, quay quanh quỹ đạo xung quanh, không thể nào vào tới tâm được. Bạn hoàn toàn thân chứng được vô ngã, vô chủ sở hữu của các thọ, sự sinh diệt của các thọ. Ở đây, trạng thái tâm biết trực tiếp được viên mãn, tâm giải thoát là có thực. Không phải là bạn tin có trạng thái đó.

Nhân vô minh còn chưa diệt, các căn – trần vẫn hàng ngày tiếp xúc phát sinh thọ nữa nên lại kích hoạt các tâm hành: tư duy, tham, sân, si, dục, tác ý, ngữ, nghiệp, mạng … Tại các tâm hành này mà tuệ tri: nó tham, sân, si hay là không tham, sân, si; nó là thâu nhiếp hay tán loạn; nó là quảng đại, hay không quảng đại; là hữu hạn hay vô thượng; là giải thoát hay không giải thoát. Rõ ràng là quán Tâm ở đây cần nhận rõ mình đang trên lộ trình tâm 8 chánh hay 8 tà. Tâm mình đã đạt được Tâm giải thoát, dừng lại ở cái tâm biết trực tiếp, tỉnh giác viên mãn như trên đã nói chưa. Chỉ tới bước này thôi. Đa số mới chỉ dám thừa nhận là mình đang tâm tà hay tâm chánh. Nhiều người tự huyễn mình đang siết chặt răng lưỡi nên là tâm chánh. Tâm chánh thì không thể phóng dật, không thể vọng tưởng như vậy được. Tâm chánh là phải được thâu nhiếp, không phải là tán loạn. Tâm chánh là quảng đại, không phải là không quảng đại. Tâm chánh là vô thượng, không phải là hữu hạn. Tâm chánh là giải thoát, không phải không giải thoát. Không dám thừa nhận mình tâm tà, vì bản ngã, vì cái tôi, vì tự ngã, vì tưởng tri,…vì không dám nhìn thẳng vào sự thật không thành tựu của mình. Khi không dám đối diện, là bạn đã không thể quán tâm, sự quán tâm hời hợt, khiến cho pháp của Đức Thế tôn chỉ dừng lại ở đó. Còn bản thân bạn thì làm dày hơn các tâm tà của mình. Càng ngày càng dày. Đến nỗi nó làm bạn khô héo, đến thanh sắc của bạn khó coi và trường sinh học quanh bạn dệt lại đặc quánh khiến ai cũng khó chịu và không muốn đến gần. Thật sự nhìn bạn không an yên, định tĩnh, hay thậm chí hồn nhiên của một người có tâm giải thoát.

Tâm hành thôi bạn còn chưa dám nhìn thẳng vào mình, thì thật sự các pháp cao cả, những nội dung sâu xa, vi tế hơn ở phần quán Pháp bạn cũng khó mà đối diện một cách kham nhẫn. Đức Thế tôn không tự dưng vẽ ra bao nhiêu là đề mục cho quán Pháp như vậy, cũng không phải tự dưng sắp xếp nó theo thứ tự như vậy. Và không tự nhiên câu được nhắc đi nhắc lại nhiều nhất ở quán pháp mà các đề mục quán trước đó không có là: …”được đoạn diệt, tương lai không sinh khởi nữa”…

1. Năm triền cái: ái dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi

2. Năm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức

3. Sáu nội ngoại xứ: mắt – sắc, tai – tiếng, mũi – hương, lưỡi – vị, thân – xúc, ý – pháp

4. Bảy giác chi: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định, giác chi, xả giác chi

5. Bốn thánh đế: khổ, khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt

Nhưng mấy ai trong các thời thiền, định tĩnh, tuệ tri về các đề mục này, chưa kể ngay trong khi căn trần tiếp xúc, phát sinh thọ tưởng và ý thức, đã biết ý thức này nó chạy vào rãnh nào trong 5 cái rãnh trên. Để mà từ các rãnh trên nó đi đến đoạn diệt, không thể trổ thêm nữa. Nó chính là các cành cụt. Nhưng bạn lại làm cho nó thành: con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt, leo ra leo vào, con kiến mà leo cành đào, leo phải cành cụt, leo vào leo ra. Sự quán hời hợt trên các pháp khiến cho mọi thứ cứ lẩn quẩn, vào ra, ra vào như vậy. Trạng thái nơi các pháp không sinh ra, giống như các cửa cống không rò rỉ ra mùi hôi thối vậy, các lậu hoặc nhờ tu tập được đoạn trừ. Sự thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, diệt trì khổ ưu, thành tựu chánh trí hiển lộ rõ ràng nơi thân tâm bạn như một bông hoa tới kì thì nở vậy. Không phải tuyên bố tôi chứng, hay chỉ có tâm người đó mới biết, mà mọi chúng sinh hữu tình đều biết một bông hoa kia đang nở đẹp, thanh tịnh như vậy.

Pháp của Đức Thế tôn, tịch tĩnh, sâu xa, khó thấy, chỉ dành cho kẻ trí tự mình chứng ngộ. Đừng tự cho rằng, mới học được chút văn tuệ, mới thực hành vài năm, thi thoảng trong các thời thiền vào tới tứ thiền là cho rằng mình là kẻ trí, những người khác còn mông muội, phàm phu lắm. Việc của mình là đọc Tâm mình, quán sát miên mật các thọ, tâm hành, các pháp nơi pháp.

P/s: cảm ơn vị thầy tâm linh đã soi sáng, chỉ lối cho con, tránh cho con lạc bến mơ